Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 23/03/2007 22:50 (GMT+7)

Gốm truyền thống của người Chăm Bầu Trúc

Gốm Chăm hầu hết do phụ nữ làm bằng tay và “mẹ truyền con nối” từ đời này sang đời khác. Gốm làm bằng loại đất sét (lan) có độ kết dính cao, được thợ gốm lấy từ một loại đất ruộng gần bờ sông do phù xa bồi tụ lâu năm mà thành.

Để tạo được một dáng gốm hoàn chỉnh người thợ gốm phải qua 6 công đoạn nhỏ như sau: Làm đất - Nặn hình - Chà láng gốm - Trang trí hoa văn - Tu sửa gốm - Nung gốm.

Trong quá trình làm gốm, thợ gốm Chăm thực hiện nhiều khâu kĩ thuật khá phức tạp.Từ khâu làm đất, tạo hình đến nung gốm, họ hoàn toàn sử dụng bằng tay. Từ đó việc nặn gốm đòi hỏi thợ gốm phải có tay nghề cao, đạt đến trình độ tinh xảo thì mới có thể cùng một lúc kết hợp nhiều thao tác phức tạp để tạo thành một sản phẩm gốm có dáng tròn đều đặn.

Do hạn chế về kĩ thuật và công cụ làm gốm nghèo nàn cho nên gốm Chăm mang những đặc điểm như sau:

- Đồ gốm có kích thước nhỏ, hinhg dáng đơn giản, chủ yếu là đáy tròn miệng loe, miệng khum; đồ gốm thường là dùng để đun nấu, đồ đựng như loại lu (mơng), thạp (jơk), nồi (gaok), niêu (glak)…Phần lớn gốm Chăm Bầu Trúc có đáy tròn miệng loe, hơi loe và miệng khum thấp. Đáy bằng chỉ được khắc phục trong những năm gần đây. Số lượng đáy bằng không đáng kể.

- Đồ gốm có kích thước lớn nhất là lu có chiều cao 120 cm, đường kính gốm 50 cm và loại có kích thước nhỏ nhất là nồi có chiều cao 20 cm, đường kính miệng 10 cm; hình dáng gốm đơn giản, chủ yếu là đồ đựng và đồ đun nấu. Bên cạnh đó, gốm Chăm Bầu Trúc còn có loại chân đế. Các loại đồ này đều sử dụng phương pháp trổ lỗ gắn kết, thường xuất hiện ở các loại có hình dáng, kích thước nhỏ, số lượng ít như lò nấu củi, nấu than (wan law), nồi hấp (chow), ấm nước (kadhi).v.v…

- Xương gốm Bầu Trúc tương đối dày, hơi thô do khi làm gốm có trộn nhiều loại cát nhỏ vào đất sét (tỷ lệ trộn đất, cát cho thích hợp). Xương gốm không chặt, mịn còn do trong quá trình làm gốm người thợ gốm Bầu Trúc chỉ sử dụng bàn đập nhẹ bằng tay một cách qua loa, không kỹ lưỡng. Họ không sử dụng bàn đập bằng gỗ, đá như các loại gốm khác cho nên kết cấu xương gốm không chặt, có những lỗ nhỏ li ti do những phần tử đất và cát chưa liên kết chặt với nhau. Từ đó làm cho xương gốm hơi thô, có độ thấm nước khá cao.

- Gốm Chăm Bầu Trúc không có lò nung cố định mà nung ngoài trời (nung lộ thiên). Do đó nhiệt độ nung trong lò không ổn định. Vì lò nung ngoài trời nên nó còn phụ thuộc vào thời tiết nắng, gió mà nhiệt độ trong lò có sự thay đổi.

- Phần trang trí gốm Bầu Trúc chủ yếu trang trí ở đồ đựng: các loại đồ đun, nấu không có trang trí hoa văn. Hoa văn trang trí phổ biến là hoa văn thực vật, không có hoa văn động vật. Thường có các kiểu hoa văn khắc vạch, in chấm bằng que cây, bằng vỏ sò, bằng hoa lá thực vật. v.v…Ngoài các loại hoa văn thông thường kể trên còn sử dụng hoa văn móng tay, dùng màu thực vật để nhuộm màu áo gốm và còn kết hợp với phương pháp chà láng để tăng thêm vẻ đẹp của gốm. Đó là đặc trưng riêng biệt dễ nhận thấy ở gốm cổ truyền của người Chăm Bầu Trúc.

- Nói chung gồm cổ truyền của người Chăm Bầu Trúc, ngoài những đặc điểm riêng mang tính địa phương, nó còn có những đặc trưng chung của loại hình gốm cổ ở vùng Đông Nam Á. Đó là gốm làm bằng tay, có sử dụng bàn đập hòn kê; ngoài ra họ còn sử dụng kĩ thuật chải, miết láng và đặc biệt gốm trang trí các lọai hoa văn khắc vạch, in chấm, vỏ sò, hoa thực vật và hoa văn văn móng tay. Từ kĩ thuật tạo hình dáng gốm, đến từng kiểu loại gốm, cách trang trí hoa văn, cho thấy gốm Chăm Bầu Trúc có mối quan hệ với gốm Sa Huỳnh và mang đặc tính chung của gốm khu vực lục địa và ven biển - hải đảo. Ngày nay gốm vẫn là vật dùng phổ biến trong cộng đồng Chăm và còn được họ đem trao đổi buôn bán, phục vụ đời sống cư dân nông thôn ở miền trung Việt Nam .

Sự phát triển và hội nhập của gốm Chăm Bầu Trúc

Một loại nồi của gốm Bầu Trúc

Một loại nồi của gốm Bầu Trúc

Ngày nay, bên cạnh gốm cổ truyền, người Chăm Bầu Trúc còn làm ra một số mẫu mã mới khác nhau như các loại bình, lọ, lồng đèn với những kiểu dáng khác nhau. Mặc dù vậy những mẫu mã mới này cònnghèo nàn, chưa đa dạng, chủ yếu là những loại bình, lọ, miệng loe, có tai dùng để cắm hoa, trang trí trong khách sạn và bán cho khách du lịch. Để khắc phục sự nghèo nàn của mẫu mã gốm Chăm, ngày nayngười Chăm Bầu Trúc còn làm các loại tượng bằng gốm, chủ yếu là họ sao chép hoặc sáng tác mô phỏng từ tượng đá truyền thống của người Chăm như tượng Aprasa, Siva; một số tượng sáng tác về chủ đề conngười như tượng Bà Mẹ Chăm, tượng Phụ nữ đội nước và tượng động vật trâu, dê, rắn, rùa. Sản xuất các loại gốm mới này, nghệ nhân làng gốm Bầu Trúc đã mạnh dạn sáng tạo ra nhiều mẫu mã, hoa văn trangtrí mới nhưng họ vẫn giữ kĩ thuật làm gốm truyền thống. Những sản phẩm gốm mới này, mới tự phát theo cảm hứng, chập chững bước vào thị trường và chưa thực sự thu hút khách hàng. Sản phẩm gốm mới BầuTrúc chỉ bước khởi đầu trên con đường chuyển mình từ gốm truyền thống đến trang trí hiện đại trong vài năm trở lại đây. Người thợ gốm Chăm đang tìm kiếm mẫu mã, kiểu trang trí và kĩ thuật sản xuất,đặc biệt tìm thị trường tiêu thụ. Hướng phát triển bền vững của một làng nghề Bầu Trúc là làm thế nào để có thể vừa bảo tồn di sản văn hoá vừa tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người dân.Đó đang là ước mơ của người dân Bầu Trúc cũng là những trăn trở của chính quyền địa phương.

Muốn gốm Bầu Trúc trên con đường hội nhập và phát triển bền vững thì trước hết nghệ nhân phải nâng cao tay nghề, đa dạng hoá hình thức gốm Chăm kể cả mẫu mã hoa văn trang trí. Điều này làng Bầu Trúc có điều kiện thuận lợi, vì hầu hết người dân có năng khiếu bẩm sinh về nghệ thuật nặn gốm, điêu khắc làm tượng. Nếu như ngày xưa gốm cổ truyền chỉ do người phụ nữ làm hoàn toàn thì ngày nay gốm mỹ thuật trang trí của người Chăm Bầu Trúc lại thuộc đàn ông đảm nhiệm. Hi vọng những nghệ nhân làng Bầu Trúc nếu được bồi dưỡng, đào tạo bài bản, kết hợp vốn văn hoá dân gian Chăm đặc sắc và kho tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm phong phú, đa dạng thì họ sẽ dễ dàng nâng cao tay nghề và tạo bước chuyển biến mới cho làng gốm Bầu Trúc.

Tuy nhiên, những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu khi nói đến gốm Bầu Trúc thường nhấn mạnh đến việc cải tiến kĩ thuật sản xuất như phải cải tiến gốm Bầu Trúc từ gốm nặn bằng tay bằng hòn kê sang gốm có bàn xoay và từ gốm nung lộ thiên (nung ngoài trời) sang lò nung. Đây là một ý tưởng tốt nhưng phải cải tiến sẽ mất đi phong cách và sắc thái của gốm Bầu Trúc. Bằng chứng, vào năm 2002, chúng tôi và một nhóm nghệ nhân làng gốm người Chăm Bầu Trúc có tham gia biểu diễn cung với gốm người Kinh ở Phù Lãng, Bắc Ninh, Gốm Mường Chanh của người Thái ở Sơn La tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam. Trong cuộc biểu diễn này gốm Phù Lãng và Mường Chanh đều làm bằng bàn xoay, chỉ có gốm Chăm Bầu Trúc là gốm làm bằng tay với hòn kê. Kết quả biểu diễn trong vòng 3 tiếng đồng, gốm Phù Lãng và Mường Chanh làm bằng bàn xoay (mỗi bàn xoay có 2 người: 1 người xoay và 1 người nặn hình gốm), nhưng gốm Bầu Trúc làm bằng hòn kê chỉ cần một người. Kết quả trong 3 tiếng đồng hồ gốm Phù Lãng và Mường Chanh chỉ làm được 3 cái nhưng nghệ nhân gốm Bầu Trúc làm đến 5 cái gốm, dĩ nhiên gốm có kích thước như nhau. Bằng chứng này nói lên rằng bàn xoay không làm cải tiến được gì khâu kĩ thuật, số lượng sản phẩm của gốm phụ thuộc vào bàn tay khéo léo của người thợ gốm. Vì làm gốm nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm, chứ không phải phụ thuộc vào tốc độ của bàn xoay. Nếu bàn xoay quay nhanh nhưng tay nghề thợ gốm thấp, vụng về thì không thể hoàn chỉnh một tác phẩm nhanh chóng được.

Về lò nung, cũng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, chúng tôi đã thí nghiệm lấy gốm Bầu Trúc bỏ vào lò nung của gốm Phù Lãng thì gốm Bầu Trúc bị vỡ do đất của gốm Chăm Bầu Trúc không chịu được nhiệt độ cao trong lò nung của gốm Phù Lãng. Ngược lại, gốm Phù Lãng bỏ vào lò nung ngoài trời của gốm Chăm Bầu Trúc thì gốm Phù Lãng không đủ độ chín, vì lò nung gốm Chăm có nhiệt độ thấp, khoảng 700-800 0C. Tương lai, gốm Bầu Trúc có thể nung được trong lò nung với nhiệt độ thích hợp nhưng nếu như thế sắc màu của gốm Chăm sẽ bị thay đổi và gốm Chăm Bầu Trúc sẽ mất màu sắc riêng.

Hiện nay, nếu muốn phát triển làng gốm Bầu Trúc bền vững là hoàn toàn phụ thuộc vào nghệ nhân (con người) làng Bầu Trúc và sự hỗ trợ thúc đẩy của nhà nước. Hiện nay làng gốm Bầu Trúc được Đảng - Nhà nước quan tâm, qui hoạch phát triển thành làng nghề. Với đường thôn, ngõ xóm sạch đẹp, đây đó, làng gốm Bầu Trúc đã xuất hiện một số nhà treo những biển hiệu quảng cáo gốm Bầu Trúc với những mẫu mã mới, trang trí đẹp và hấp dẫn. Cơ chế thị trường thực sự thổi vào làng gốm Chăm Bầu Trúc. Hi vọng trong tương lai không xa, với sự hỗ trợ của nhà nước, nghệ nhân sẽ nâng cao được tay nghề, sáng tạo thêm nhiều mẫu mã và trang trí phù hợp với thị hiếu hiện nay mà không lẫn lộn với gốm khác như gốm sứ Trung Quốc, Bát Tràng, Đồng Nai, và xa hơn nữa như gốm Mã Lai, Thái Lan trong thị trường gốm đa dạng ngày nay.

Bình gốm miệng loe (mẫu mới Bầu Trúc).

Bình gốm miệng loe (mẫu mới Bầu Trúc)

Nghề gốm cổ truyền của người Chăm Bầu Trúc là một trong hai nghề thủ công truyền thống (nghề gốm và nghề dệt) còn tồn tại ngày nay trong di sản văn hoá của người Chăm Ninh Thuận. Làng gốm nàyvẫn còn những giá trị văn hóa, nó không chỉ lưu giữ kĩ thuật thủ công truyền thống mà còn giữ nguyên vẹn cấu trúc của một làng nghề, từ hình thái xã hội, quan hệ tộc người, tổ chức sản xuất, hoạtđộng kinh tế, trao đổi hàng hoá cho đến tôn giáo, tín ngưỡng… đều mang nét cơ chế của xã hội mẫu quyền gắn với nghề thủ công truyền thống từ xa xưa. Ngày nay, làng gốm đã được quy hoạch thành làngnghề thuộc khu phố 7, thị trấn Phước Dân, Ninh Phước, Ninh Thuận. Do đó cơ cấu làng gốm cổ truyền của người Chăm Bầu Trúc cũng đang trên đường thay đổi và sự thay đổi này, nếu những nhà quy hoạchkhông lưu ý thì cơ cấu làng nghề này sẽ bị phá vỡ.

Nghề gốm của người Chăm Bầu Trúc là một nghề của phụ nữ. Qui trình sản xuất gốm Chăm Bầu Trúc bắt đầu từ khâu đào nguyên liệu, tạo hình, nung gốm đến trao đổi sản phẩm phần lớn là do người phụ nữ đảm nhiệm. Ngày nay, khâu trang trí, tạo hình gốm mới lại có sự tham gia của đàn ông. Qui trình sản xuất gốm Bầu Trúc đang có sự phân công rõ ràng giữa đàn ông và đàn bà. Nghệ nhân gốm Bầu Trúc có tinh thần cần cù lao động “khéo tay hay làm”; có trình độ tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo và bí quyết riêng. Những yếu tố này, đã tạo nên phong cách riêng của gốm Chăm Bầu Trúc mà không lẫn lộn với các loại gốm khác.

Nguồn: T/c Xưa & Nay, 275-276, 1-2007, tr27.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.