Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 07/07/2014 16:04 (GMT+7)

Gỡ vướng để phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ

Trên cơ sở của Nghị định này, Bộ Khoa học và Công nghệ với các Bộ, ngành liên quan đã cùng ban hành Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện Nghị định 80.

Như vậy, cùng với việc thực hiện Nghị định 115/2005 ngày 5/9/2005 của Chính phủ, quy định cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, có thể nói những mắt xích cuối cùng trong chuỗi hoạt động khoa học và công nghệ đi từ ý tưởng khoa học đến nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm để thương mại hóa hay hình thành doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ đã được thiết lập.

Đột phá về cơ chế và chính sách 

Triển khai cơ chế và chính sách mới này, Chính phủ đã cho phép Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, là đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học.

Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho phép triển khai các gói hỗ trợ trực tiếp tại Quyết định số 592 về Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Quyết định 2075 về Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến 2020, với nhiều quan điểm và cách tiếp cận mới có tính đột phá chiến lược, như xây dựng ba sàn giao dịch công nghệ quốc gia ở ba thành phố lớn, kết nối hệ thống các tổ chức dịch vụ và các tổ chức trung gia của thị trường khoa học và công nghệ trên phạm vi cả nước, khu vực và quốc tế; xây dựng các khu ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao; tăng cường hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, quản trị và nhiều ưu đãi khác cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Trong thời gian qua, nhiều văn bản hướng dẫn tạo hành lang pháp lý cho phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, như hướng dẫn việc giao sử dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ, hướng dẫn định giá tài sản trí tuệ đối với các sản phẩm nghiên cứu và phát triển công nghệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, ngoài ngân sách nhà nước cũng đã và đang trong quá trình xây dựng.

Những bước triển khai nói trên đã thể hiện đầy đủ ý chí và quyết tâm Bộ Khoa học và Công nghệ trong thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ, về phát triển khoa học và công nghệ trong tình hình mới.

Với những nỗ lực đó bước đầu những cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển mô hình doanh nghiệp “kiểu mới,” doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhất là những nhà khoa học có tinh thần doanh nhân, các nhà khoa học trẻ, sinh viên, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân và cả những nhà sáng tạo “chân đất” với niềm tin và ước mơ khởi nghiệp bằng những ý tưởng, sáng tạo.

Thực trạng phát triển doanh nghiệp 

Sau gần 7 năm Nghị định của Chính phủ ra đời và 6 năm Thông tư hướng dẫn được các Bộ ngành liên quan thông qua ban hành, với những sửa đổi bổ sung cần thiết, gần 2 năm thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về gói hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, có thể nói những mục tiêu cần đạt được vẫn còn khá xa cả về số lượng và chất lượng.

Ước tính đến nay mới chỉ công nhận được khoảng trên 100 doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong tổng số trên 200 hồ sơ xin đề nghị cấp trên phạm vi toàn quốc. Số lượng các doanh nghiệp khoa học và công nghệ được công nhận có phân bố không đồng đều, quy mô nhỏ là chủ yếu, các doanh nghiệp làm ăn tốt chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực giống nông nghiệp, chế biến dược liệu.

Số các doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử phần mềm, công nghệ sinh học và một số lĩnh vực công nghệ cao khác hầu như chưa đăng ký hoặc chưa được công nhận.

Đi tìm nguyên nhân của sự giảm mức quan tâm, chú ý đối với chính sách mới có tính đột phá này từ nhà khoa học, doanh nghiệp khoa học và công nghệ và d ư luận nói chung của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà quản lý khoa học và công nghệ nói chung đã phần nào làm rõ một số những khó khăn, bất cập và những điểm không còn phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Cụ thể là việc triển khai thực hiện Nghị định 80/NĐ-CP của Chính phủ trong thời gian qua cho thấy trên thực tế mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ mà nghị định của Chính phủ đã đề cập đến thường bị tách làm hai kiểu mô hình hoạt động.

Mô hình thứ nhất là doanh nghiệp được khởi nghiệp bởi chính các nhà khoa học từ trong các viện trường (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý điều hành). Ở mô hình có việc sử dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ, có thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nghĩa là có thu nhâp đầu vào.

Với mô hình này thì yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp chưa xuất hiện, nếu có thì chỉ là thuế thu nhập cá nhân, do vậy chính sách ưu đãi về thuế chưa có tác động cụ thể. Đồng thời quy chế quản lý nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hiện hành cũng gây khó cho các doanh nghiệp loại này, do quy mô là siêu nhỏ, số lượng nhân lực rất ít nên không thể tổ chức thực hiện như quy định. Bên cạnh đó nhu cầu sử dụng đất cho hoạt động cũng chưa thực sự nhiều do vậy chính sách ưu đ ãi về đất sản xuất kinh doanh cũng chưa thực sự tạo sức hút lớn.

Mô hình thứ hai là doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã đưa được một phần, hay toàn bộ kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ vào các sản phẩm sản xuất và có thu nhập có lãi ở đầu ra.

Nhưng một thực tế là ở Việt Nam hiện đang triển khai khá nhiều chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp theo từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Do những quy định và cách hiểu khác nhau về việc hưởng ưu đãi thuế nên việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ gặp khó khăn, ví dụ trường hợp Công ty dược phẩm A do hiện đang hưởng thuế suất ưu đãi thu hút về khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương , nên tại thời điểm được công nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ thì việc đề nghị áp dụng ưu đãi thuế không được cơ quan thuế chấp nhận, do thời hạn hưởng chính sách ưu đãi thuế đã có chưa kết thúc đối với doanh nghiệp đó, nếu muốn hưởng thì chỉ có cách là đổi tên doanh nghiệp, thay đổi thương hiệu của công ty.

Việc giao kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ của các tổ chức công lập (viện, trường) có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, được cho là một trong những giải pháp để hình thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.Song vấn đề về mối quan hệ giữa doanh nghiệp được hình thành và nơi đã sản sinh ra kết quả đó sẽ như thế nào? Có cạnh tranh và mẫu thuẫn lợi ích hay không khi bản thân các tổ chức khoa học và công nghệ công lập này cũng phải thực hiện quá trình tự chủ theo Nghị định 115/NĐ-CP, trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh từ các kết quả nghiên cứu cũng là một trong cá phần việc và mục tiêu h ướng tới của chính các đơn vị này.

Việc không sử dụng được nguồn lực từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước để tái đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ trong thời gian qua, do các quy định ngặt nghèo về sử dụng quỹ phát triển khoa học trong doanh nghiệp nhà nước, cũng đã làm khó hoạt động phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp, hạn chế yếu tố sáng tạo của doanh nghiệp bằng các nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển sản phẩm mới.

Hiện nay mặc dù việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã và đang được Chính phủ chỉ đạo quyết liệt thực hiện những cũng chưa thấy doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hình thành, điều mà lẽ ra phải có như một sự tất yếu trong quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp đi lên theo hình xoắn ốc trong quá trình vận động và phát triển kinh tế xã hội của đất nước và cạnh tranh kinh tế quốc tế.

Giải pháp cho phát triển nhanh và bền vững 

Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ cần phải được đặt trong tổng thể mô hình phát triển doanh nghiệp của cả nước.Vai trò, vị trí của doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở từng ngành, lĩnh vực, vùng và từng địa phương phải gắn bó chặt chẽ với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế.

Về “số lượng” cũng quan trọng, nhưng điều thực sự quan trọng là “chất lượng,” phải làm cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng và động lực cho phát triển sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao.

Do đó, một trong những yêu cầu đầu tiên là cần phải “định vị” rõ nét thế nào là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, ở đâu và khi nào. Những quan điểm, cách hiểu hiện nay đã phản ánh được đầy đủ, chính xác những đặc tính của loại hình doanh nghiệp này hay ch ưa, các cơ chế và chính sách cho từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn của sự phát triển?

Kinh nghiệm từ các quốc gia có truyền thống phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu mới từ viện, trường như Nhật Bản cho thấy cần phải thường xuyên đánh giá và cập nhật nhanh chóng cơ chế chính sách để phù hợp với thực tiễn của sự phát triển

Nên chăng cần thay đổi cách tiếp cận về xây dựng chính sách ưu đãi đất đai. Để thực hiện được mục tiêu này ngành khoa học và công nghệ cần quy hoạch và tăng nhanh số lượng các khu ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong phạm vi cả nước và đổi mới cơ chế đầu tư và quản lý, ví dụ có thể triển khai các khu ươm tạo theo hình thức hợp tác công tư (PPP) để tăng cường nguồn lực đóng góp từ xã hội, với sự tham gia của các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích đầu tư mạo hiểm cho một số ngành và lĩnh vực mới có nhiều triển vọng.
Hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chức năng công trong việc thực hiện xây dựng cơ chế, chính sách và triển khai thực hiện hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nói chung chưa thực sự tốt, theo các chuyên gia JICA thì đây là một trong những điểm yếu của hệ thống hỗ trợ doanh nghiệp nói chung của Việt Nam.
Do vậy để đạt được mục tiêu đã đề ra thì giải pháp nâng cao hiệu quả chỉ đạo, phối hợp của các cơ quan nhà nước cả ở cấp trung ương và địa phương theo chiều ngang và chiều dọc là hết sức quan trọng.
Sự thiếu vắng một chiến lược truyền thông đầy đủ với những đặc thù riêng cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ để cung cấp thông tin, tạo dư luận xã hội, qua đó tạo ra làn sóng mới trong phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong cộng đồng doanh nghiệp, cũng là điều cần phải được bổ sung trong thời gian tới đây.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.