Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Nam Bộ
Đơn giản vì người ta đã hoặc vô tình, hoặc cố ý xem thường thứ ngôn ngữ ấy! Ngược đọc thỉnh thoảng vẫn bắt gặp đó đây những cách giải thích từ, ngữ rất tuỳ tiện, hoặc nhận định, xem xét sự kiện rất hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn óc” mà còn dẫn đến sai lầm nghiêm trọng.
Giải thích tuỳ tiện có khi còn làm mất đi cái hồn của ngôn ngữ, làm hoen ố sự trong sáng vốn có của tiếng Việt đáng yêu. Đơn cử như:
- Cuốn sách “ Văn hoá đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam” - Đại học quốc gia Hà Nội - “tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập trong các trường đại học”, đã giải thích - “Nước rong: nước cạn. Nước ròng: nước lớn”! (nói ngược - nhầm hay lỗi của nhà in? - DT&TĐ).
- Cuốn sách “ Diện mạo văn học dân gianNamBộ” đã giải thích chữ buôi (trong câu “ Nước chảy xuôi, có cá buôi lội ngược” là “ bơi . Tiếng Nam Bộ xưa”! Ta biết, cá buôi là một loại cá cụ thể, quê hương của nó không chỉ khu biệt ở Nam Bộ, mà còn có nhiều ở những nơi khác (nay đã tuyệt chủng?). Đó là “thứ cá sông tròn mình, nhỏ con mà có nhiều mỡ” (Huỳnh Tịnh Của, ĐạiNamquốc âm tự vị). Ca dao:
“ Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vược lội xuôi.
Anh với em xa cách ngậm ngùi
Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng”.
Hoặc:
“Ngó lên trời thấy cục mây bạch
Ngó xuống vàm rạch thấy cá chạy đỏ đuổi
Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược con cá vược lội theo
Con cá heo nó khóc
Con cá lóc nó sầu...
Phải chi ra ngoài biển có cầu
Anh ra đến đó giải sầu cho em”
Và:
“Năm tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho đặng đãi người khách sang”
Hoặc:
“Ba tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già”.
Vậy đã quá rõ ràng, cá buôi là giống cá nào rồi, đâu phải “cá bơi”! (xin đừng đổ vạ cho “ngày xưa”!).
Ở một chỗ khác, tác giả sách đã dẫn nêu câu ca dao:
Con cút cụt đuôi ai nuôi mầy lớn?
- Dạ thưa bà con lớn, bà nuôi?
Lại chú thích rằng: Có kẻ đã bẻ lại vế này ra “Dạ thưa bà con lớn mình con” và cũng bị mắng rằng “Cái đồ ở dưới lỗ nẻ chui lên”.
Câu này, nếu cho là “dị bản” thì chẳng đáng chuyện phải bàn, nhưng ở đây nó bị hiểu là “có kẻ đã bẻ lại”. Thực ra, nói như vậy không thoả đáng. Chúng ta đều biết ngày xưa, dân Nam Bộ xưng hô với người trên là “tui” chứ không xưng “con”, “em”, “cháu” như khoảng 50 năm trở lại đây. Câu ấy đúng là “Dạ thưa bà tui lớn mình tui”. Và nếu không nghiên cứu kỹ sẽ không thể nào hiểu nổi cái lý tại sao “tui lớn mình tui” được! Cốt lõi của nó là “con cút” (chứ không phải con vật nuôi nào khác), lại là “con cút cụt đuôi”! nếu để tâm, đặc biệt chú ý đến hai yếu tố: vật nuôi và cụt đuôi (khuyết tật),rồi liên tưởng đến quy định về tế lễ của đời xưa, đồng thời tìm hiểu cho “thật tới” nguyên lý cấu trúc thi pháp của ca dao Nam Bộ, mới thấy hết cái độc đáo, của sự kiện, và không thể không nghiêng mình bái phục trí tuệ dân gian.
Thế mới biết sẽ thật là nhạt nhẽo, thậm chí vô vị khi cho rằng “con lớn, bà nuôi”! - Ai bẻ ngược lại làm cho hư mất câu ca dao tuyệt vời này? (Hỏi tức trả lời).
Trong phạm vi một bài viết nhỏ trên Dân tộc & Thời đại, không cho phép người cầm bút dài dòng giải thích - bởi không khéo sẽ mắc phải chuyện “nói sang đàng”. Và, cũng không cần dẫn chứng thêm chi nhiều, “đơn cử” một vài như thế tưởng cũng đủ hiểu! Chính vì vậy mà các nhà văn, nhà thơ, các nhà biên soạn, nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ bao giờ cũng tỏ ra trân trọng, luôn ý thức giữ gìn tính tích cực của vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang sử dụng và phát triển.
Nếu không như thế, vô hình trung sẽ làm nghèo đi ngôn ngữ, nếu không muốn nói là hành vi phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp thế hệ cha ông - những người đã phải bươn trải trong quá trình lao động, đấu tranh gian nan - để rồi từ cuộc sống đời thường, mới lần lượt sáng tạo ra cả một kho tàng ngôn ngữ phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta. Thế thì lẽ nào ta lại phụ phàng, ngoảnh mặt?
Ngôn ngữ - tiếng nói, được dân gian dùng làm phương tiện giao tiếp. Tuỳ từng thời và theo trào lưu tiến hoá, nó không thể không biến đổi cùng với việc bổ sung thêm mãi cho thích ứng. Ở đó, có không ít từ - tiếng người nay ít dùng, thậm chí không còn dùng. Chúng đã vui lòng yên nghỉ, nhưng thiết tưởng cũng nên có cái nhìn trìu mến, bởi dù sao nó cũng đã hoàn thành chức năng vẻ vang trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Thế thì nỡ nào ta lại không quý trọng, không có tấm lòng đối với cái di sản phi vật chất cao cấp ấy?
Thật là khập khiễng khi mà ai nấy chỉ biết quý trọng những di sản vật chất. Thí dụ như những pho tượng cốt được người xưa chạm khắc rất ngô nghê, hoặc những chum lọ, nồi trách, bình vôi sứt quai, mẻ miệng, thậm chí chỉ là những mảnh vỡ cũng được đưa vô bảo tàng, hoặc dựng cất mái che để bảo vệ, trưng bày những viên gạch lùi xùi vốn chỉ là đất nung!
Thật đáng quý biết bao khi được biết, cho đến nay, dù đã trải mấy nghìn năm kể từ thuở loài người phát minh ra giấy viết, tức không còn phải “đề thơ lên lá” nữa, mà ngành Bưu điện Việt Nam vẫn còn dùng mẫu ấn chỉ “Lá báo” (trong quan hệ nội bộ giữa các bưu trạm); ngành báo chí Việt Nam vẫn dùng “Lá thư toà soạn” để trao đổi với bạn đọc của mình! Còn dân gian thì vẫn gọi vật “chỉ thời gian” là đồng hồ như xa xưa. Tinh thần bảo tồn ấy rất đáng ghi nhận, tuyệt vời!
Ngôn ngữ - tiếng nói của Nam Bộ đích thực là mộc mạc, chân quê, nhưng đó là thứ mộc mạc chân quê rất đích xác, rất thiêng liêng của người Việt Nam - mà không đâu có được. Và có lẽ cũng rất khó tìm thấy ở các dân tộc khác sự phong phú “trên cả tuyệt vời” đến thế! Chẳng hạn như để mô tả trạng thái của nước, ngôn ngữ Nam Bộ có đến hàng chục khái niệm: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đầy mà, nước rặt, nước nhửng, nước nhảng, nước ương, nước quay, nước lên, nước đổ, nước lộn, nước dâng, nước bò, nước sụt, nước trồi, nước mội, nước xẹt, nước lụt, nước tống, nước chụp, nước phân đồng...
Hoặc như nói về cái chết của con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm cách nói, mà cách nào cũng có hàm ý riêng như: mất, qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”, ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh dũng hi sinh, đền song nợ nước, ly trần, tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh, Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế giới, về cõi vĩnh hằng, trở về cát bụi v.v...
Rồi thì cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười... hầu như người Nam Bộ nào cũng sẵn có “cả kho”, ít gì cũng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn - từ nào cũng mang ý nghĩa riêng, biểu tỏ rất hình tượng, chân xác, đồng thời thể hiện đúng tâm trạng, động thái của nhân vật, ngay cả tại “thời điểm khoảnh khắc”. Nó phong phú đến mức không tài nào có thể ghi lại được đầy đủ - cho dù là tương đối!
Trước đây người ta cho rằng tiếng nói của Nam Bộ là phương ngữ, không hơn không kém, xem như chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ, khu biệt trong địa phương - ít nhiều có ý “phân biệt”, xem thường! Nhưng về sau, khi đã nhận chân được tiếng Việt ở Nam Bộ quả đã thực sự đóng góp rất tích cực trong việc làm giàu thêm cho ngôn ngữ toàn dân thì, cách hiểu mang tính cục bộ ấy không còn phù hợp, vì rõ ràng thiếu công bằng, nên đã đổi gọi lại, không dùng phương ngữ Nam Bộnữa mà gọi là ngôn ngữ Nam Bộ.
Ngôn ngữ Nam Bộ là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn ngữ, là người sử dụng, giữ gìn và phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu vì lý do nào đó, ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt thì một ngày không xa, đương nhiên nó sẽ teo tóp dần, lúc ấy ta còn gì trong tay để “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”?
Hồ Chí Minh từng nói, căn dặn: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hoá. Mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật.
Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 92, 7/2006








