Giao thương ở đồng bằng Nam bộ thời kỳ văn hoá Óc Eo
Theo sau kỳ nước biển dâng cao thời Flandrien trong khoảng 4850-1650 trước C.N. Làm chìm ngập sâu toàn bộ các vùng châu thổ, nước biển bắt đầu rút và hình thành các kỳ biển tiến - biển thoái mới có biên độ nhỏ hơn nhưng có vai trò quan trọng hơn trong việc cấu tạo nên bề mặt châu thổ, ấn định phạm vi cư trú cho con người ở mỗi giai đoạn. Có ít nhất 7 kỳ biển được xác định, lần lượt được gọi là biển lùi Rạch Giá (1650-1150 TCN), biển tiến Bến Đá (1150-850 TCN), biển lùi Long An (850-200 TCN), biển tiến Rạch Núi (200 TCN-50 SCN), biển lùi Óc Eo (50-350 SCN), biển tiến Đông Hải (350-1150 SCN) và biển lùi Miền Tây (1150 SCN đến nay) (2).
Ở vào đỉnh cao mỗi kỳ biển tiến nơi mực nước biển dừng lại khá lâu, có khi đến hàng trăm năm, một đường bờ biển được thành lập và từ bắt đầu giai đoạn mực nước biển hạ thấp và rút lui ra khỏi lục địa, các dòng sông hoạt động đào lòng trở lại và các lớp phù sa bắt đầu bồi đắp châu thổ. Từ đỉnh cao của kỳ biển Flandrien trong khoảng các năm 2350 TCN về sau đã có 3 đỉnh cao kế tiếp xảy ra trong khoảng các năm 950 TCN, 50TCN và 650 SCN. Một đường bờ biển được nhận ra chạy từ di chỉ Gò Thác ở Đồng Tháp theo hướng Đông - Tây cắt qua Vàm Nao đến di chỉ Angkor Borei tỉnh Tà Keo. Đường bờ biển này là giới hạn phía nam của dân cư Óc Eo sớm, từ thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên đến hết kỳ biển lùi Long An. Nhưng bắt đầu kỳ biển tiến Rạch Núi thì cư dân Óc Eo sớm phải co cụm lên các vùng cao, đến đỉnh cao Hải Sâm này thì tập trung chủ yếu trên thềm phù sa cổ ở phía bắc châu thổ và trên các yếm phù sa quanh rặng Thất Sơn.
Việc phát triển dân cư về phía các đồng thấp châu thổ chỉ diễn ra mạnh mẽ từ đầu Công Nguyên (3)vào cuối kỳ biển tiến Rạch Núi sang kỳ biển lùi Óc Eo và phát triển theo 3 lộ trình. Lộ trình thứ nhất diễn ra rất sớm: Cư dân theo dòng cổ Cửu Long chảy theo hướng gần Bắc - Nam trong khoảng Hồng Ngự qua Vàm Nao đổ vào vịnh biển phía đông Ba Thê, thiết lập lên các trung tâm cư trú nơi vùng núi Thất Sơn, các vùng cửa sông ở Óc Eo và ở Nền Chùa, rồi tiếp tục đi về phía Nam đến Cạnh Đền và Vĩnh Hưng trong rừng U Minh ngày nay. Lộ trình thứ 2 theo dòng sông Hậu tạo thành một loạt các trung tâm cư trú dọc theo bờ sông, đến Nhơn Nghĩa ở Cần Thơ và Lưu Cừ ở Trà Vinh. Dòng sông Hậu phát triển trên một hệ thống đứt gẫy Tây Bắc - Đông Nam và dần dà lấy nước của dòng cổ Cửu Long đổ ra biển đông. Lộ trình thứ ba đông đảo hơn, đặc biệt hơn, cư dân di trú từ các vùng cao và các bờ sông đến sinh sống dọc theo một trục các trung tâm cư trú phồn vinh xếp dài theo một trục theo hướng Đông - Tây, từ cửa biển Cần Giờ đến cửa vịnh Rạch Giá lúc bấy giờ ăn sâu đến tận Ba Thê.
Bố cục cư trú trên lộ trình thứ ba này cho thấy vào lúc thấp nhất của kỳ biển lùi Óc Eo trong khoảng các năm 200 SCN nơi đây vẫn còn là một vùng trũng mênh mông. Những kết quả trùng hợp giữa hai phương pháp nghiên cứu địa lịch sử và địa chất - địa vật lý cho phép tái hiện khung cảnh địa lý đồng bằng Nam Bộ sau thời Flandrien và một hệ thống hải lộ vắt ngang đồng bằng chạy qua các trung tâm cư trú nằm trên bờ bắc của vùng vịnh cổ. Hệ thống đường biển này đã tạo điều kiện cho các tàu biển cho tới giai đoạn Phù Nam, từ thế kỷ thứ I đến sau thế kỷ thứ VI, đi từ Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca vào vịnh Rạch Giá đi thẳng ra Biển Đông qua ngã Vũng Tàu, sau khi đã lưu lại một thời gian cần thiết để tránh bão, đón chờ lúc thuận gió mùa và trao đổi buôn bán nơi các thương cảng Óc Eo ở cửa ngõ phía Tây và Rinai ở cửa ngõ phía Đông. (4)
Thực ra vấn đề về đường biển băng qua đồng bằng Nam Bộ đã được đặt ra rất sớm. Trước hết thương cảng Óc Eo hiện nay nằm sâu trong đất liền đến hàng chục cây số. Phía đông của thương cảng này còn lại dấu vết cửa sông đổ vào vịnh biển cổ, mà nền của vịnh này là một nhánh biển sâu trung bình 15-20m còn để lại những cột án tiêu hàu biển Crassostrea gigantissima quanh vùng núi Chóc (5). Về sau cửa sông cổ này kéo dài ra đến tận Rạch Giá và một tiền cảng được thiết lập trong khoảng Nền Chùa từ năm 270 đến năm 530. Hiện nay đường bờ vịnh cổ phía đông Ba Thê được lưu dấu bằng một hệ thống các lung chạy song song với Lung Lớn; lung này nối vào hệ thống các kinh đào cổ của kinh đô Phù Nam .
Lộ trình giao thương đường biển có ý nghĩa sống còn với một quốc gia - đô thị như Phù Nam . Trên thực tế nước Phù Nam và các xã hội hậu Phù Nam đã chi phối con đường hương liệu băng qua vùng Đông Nam Á bằng các sản vật buôn bán, bằng đồng tiền làm phương diện tài chánh, và bằng các tiện nghi hạ tầng cùng dịch vụ bến cảng. Bước đầu dấu tích về các tiện nghi bến cảng đã được tìm thấy; đồng bạc Phù Nam phát tán rộng từ Đông Dương qua Miến Điện đến Hồng Kông và qua các quốc gia hải đảo; các sản vật đặc hữu của Óc Eo đã được tìm thấy nơi các thương điếm trên con đường hương liệu từ Ai Cập đến Nhật Bản - trong đó có ít nhất một dòng thuỷ tinh, một loại ngọc lựu gọi là Hessonite và loại trầm hương rất quý của loài dó bầu Aquilariacrassna mà các nhà buôn Nabat ở Petra gọi là “ud”, không loại trừ đây là tên gọi địa danh tương tự Óc Eo. (6)
![]() |
| Vị trí các hệ thống đứt gãy chi phối đường bờ biển cổ và dòng chảy các sông |
Những mô tả trong các văn bản cổ của người Nabat ở Trung Đông cho thấy trong vài thế kỷ trước và sau Công Nguyên họ đã đến buôn bán nơi thương cảng Óc Eo - mà sản vật chính là “ud” tức loại trầm hương rất đắt giá - và một thương cảng khác gọi là Rinai trước khi theo bờ duyên hải để đến mua hàng gia vị và hương liệu miền Trung (7). Theo cách mô tả này thì Rinai có thể là một địa điểm nào đó về phía đông ngang khoảng Bà Rịa - Đồng Nai ngày nay. Ký sự của hai sứ thần Trung Hoa Chu Ứng và Khang Thái đến đây trong khoảng năm 230 cho thấy họ đã phải đi qua hàng trăm dặm dọc theo các con sông trong vùng rừng sát để đến kinh đô Phù Nam - nhiều khả năng họ đã tiến vào đồng bằng Nam Bộ theo ngả rừng sát Cần Giờ sau khi đã xuôi thuyền dọc theo duyên hải miền Trung.
Cũng trong tập ký sự gọi là “Chuyện lạ ở phương nam” này họ đã mô tả các con tàu Phù Nam đủ lớn để chở hàng trăm người với 40 - 50 tay chèo, tàu có bốn cột buồm với các cánh buồm nằm nghiêng rộng khoảng 10 bộ. Hoạt động thương thuyền Óc Eo vào thời đó rất có quy củ: Yiyuan viết rằng các chủ tàu Phù Nam chỉ lấy tiền công khi thuyền của họ đến nơi đúng hẹn (8). Từ thế kỷ thứ IV các đoàn tàu Ba Tư cũng băng qua hải lộ này, ghé lại các cộng đoàn người Iran ở Mã Lai và ở Óc Eo trước khi đi vào Biển Đông; lộ trình của họ vẫn được giữ nguyên cho đến thế kỷ thứ VIII, nghĩa là hải lộ băng qua đồng bằng vẫn còn lưu thông được cho đến một vài trăm năm sau đỉnh cao biển tiến Đông Hải xảy ra giữa thế kỷ thứ VII.
Nhưng thế kỷ thứ VIII khi Marco Polo du hành từ Trung Hoa qua Mã Lai thì con tàu phải đi võng qua mũi Cà Mau để đến eo biển Malacca. Có thế nước biển dâng cao trong các năm 650 SCN đã làm chìm ngập các đô thị trên bờ vịnh cổ và rồi lộ trình giao thương băng qua đồng bằng cũng bị bồi lấp, dẫn đến hiện tượng suy thoái các trung tâm văn hoá cổ ở đồng bằng Nam Bộ. Các sông Long Xuyên, sông Lấp Vò và đoạn sông Tiền từ Sa Đéc đến Cửa Tiểu, Cửa Đại có thể là dấu vết còn lại của hải lộ quan trọng trước đây.
______________
Chú thích
1- Tạp chí Thất Sơnsố 103 (2006): Văn hoá Óc Eo - từ truyền thống nông nghiệp đến văn minh đô thị; và Tạp chí Văn hoá Lịch sửsố 27 (2006): Gò Cây Thị An Giang - một di chỉ đền thờ lộ thiên.
2- Tổng hợp tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả về hải xâm - hải thoái ở đồng bằng Nam bộ và vùng bờ Thái Bình Dương.
3- Tạp chí Khoa học Xã hộisố 18 (1993): Dữ kiện mới liên quan đến văn hoá cổ Óc Eo tại An Giang; và số 34 (1997): Thay đổi môi trường tác động đến sự phát triển và tàn lụi của vương quốc Phù Nam .
4- Tạp chí Xưa và Naysố 256 (2005): Con đường hương liệu qua vùng Đông Nam Á; và Tạp chí Thất Sơnsố 102 (2006): Vị trí Ba Thê - Óc Eo trên con đường hương liệu.
5- Theo kết quả khảo sát của tác giả trong các đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình 06 và 60-02.
6- Tạp chí Xưa và Naysố 236 (2005): Nhận diện đá quý qua di vật văn hoá Óc Eo.
7- Tạp chí Kiến thức Ngày naysố 558 (2006): Đoàn tàu Ba Tư và những người Iranđầu tiên đến Việt Nam .
8- Tạp chí Thất Sơnsố 95 (2005): Văn hoá Óc Eo - Thương thuyền và hoạt động thương thuyền.









