Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/06/2007 23:47 (GMT+7)

Giao thương ở đồng bằng Nam bộ thời kỳ văn hoá Óc Eo

Theo sau kỳ nước biển dâng cao thời Flandrien trong khoảng 4850-1650 trước C.N. Làm chìm ngập sâu toàn bộ các vùng châu thổ, nước biển bắt đầu rút và hình thành các kỳ biển tiến - biển thoái mới có biên độ nhỏ hơn nhưng có vai trò quan trọng hơn trong việc cấu tạo nên bề mặt châu thổ, ấn định phạm vi cư trú cho con người ở mỗi giai đoạn. Có ít nhất 7 kỳ biển được xác định, lần lượt được gọi là biển lùi Rạch Giá (1650-1150 TCN), biển tiến Bến Đá (1150-850 TCN), biển lùi Long An (850-200 TCN), biển tiến Rạch Núi (200 TCN-50 SCN), biển lùi Óc Eo (50-350 SCN), biển tiến Đông Hải (350-1150 SCN) và biển lùi Miền Tây (1150 SCN đến nay) (2).

Ở vào đỉnh cao mỗi kỳ biển tiến nơi mực nước biển dừng lại khá lâu, có khi đến hàng trăm năm, một đường bờ biển được thành lập và từ bắt đầu giai đoạn mực nước biển hạ thấp và rút lui ra khỏi lục địa, các dòng sông hoạt động đào lòng trở lại và các lớp phù sa bắt đầu bồi đắp châu thổ. Từ đỉnh cao của kỳ biển Flandrien trong khoảng các năm 2350 TCN về sau đã có 3 đỉnh cao kế tiếp xảy ra trong khoảng các năm 950 TCN, 50TCN và 650 SCN. Một đường bờ biển được nhận ra chạy từ di chỉ Gò Thác ở Đồng Tháp theo hướng Đông - Tây cắt qua Vàm Nao đến di chỉ Angkor Borei tỉnh Tà Keo. Đường bờ biển này là giới hạn phía nam của dân cư Óc Eo sớm, từ thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên đến hết kỳ biển lùi Long An. Nhưng bắt đầu kỳ biển tiến Rạch Núi thì cư dân Óc Eo sớm phải co cụm lên các vùng cao, đến đỉnh cao Hải Sâm này thì tập trung chủ yếu trên thềm phù sa cổ ở phía bắc châu thổ và trên các yếm phù sa quanh rặng Thất Sơn.

Việc phát triển dân cư về phía các đồng thấp châu thổ chỉ diễn ra mạnh mẽ từ đầu Công Nguyên (3)vào cuối kỳ biển tiến Rạch Núi sang kỳ biển lùi Óc Eo và phát triển theo 3 lộ trình. Lộ trình thứ nhất diễn ra rất sớm: Cư dân theo dòng cổ Cửu Long chảy theo hướng gần Bắc - Nam trong khoảng Hồng Ngự qua Vàm Nao đổ vào vịnh biển phía đông Ba Thê, thiết lập lên các trung tâm cư trú nơi vùng núi Thất Sơn, các vùng cửa sông ở Óc Eo và ở Nền Chùa, rồi tiếp tục đi về phía Nam đến Cạnh Đền và Vĩnh Hưng trong rừng U Minh ngày nay. Lộ trình thứ 2 theo dòng sông Hậu tạo thành một loạt các trung tâm cư trú dọc theo bờ sông, đến Nhơn Nghĩa ở Cần Thơ và Lưu Cừ ở Trà Vinh. Dòng sông Hậu phát triển trên một hệ thống đứt gẫy Tây Bắc - Đông Nam và dần dà lấy nước của dòng cổ Cửu Long đổ ra biển đông. Lộ trình thứ ba đông đảo hơn, đặc biệt hơn, cư dân di trú từ các vùng cao và các bờ sông đến sinh sống dọc theo một trục các trung tâm cư trú phồn vinh xếp dài theo một trục theo hướng Đông - Tây, từ cửa biển Cần Giờ đến cửa vịnh Rạch Giá lúc bấy giờ ăn sâu đến tận Ba Thê.

Bố cục cư trú trên lộ trình thứ ba này cho thấy vào lúc thấp nhất của kỳ biển lùi Óc Eo trong khoảng các năm 200 SCN nơi đây vẫn còn là một vùng trũng mênh mông. Những kết quả trùng hợp giữa hai phương pháp nghiên cứu địa lịch sử và địa chất - địa vật lý cho phép tái hiện khung cảnh địa lý đồng bằng Nam Bộ sau thời Flandrien và một hệ thống hải lộ vắt ngang đồng bằng chạy qua các trung tâm cư trú nằm trên bờ bắc của vùng vịnh cổ. Hệ thống đường biển này đã tạo điều kiện cho các tàu biển cho tới giai đoạn Phù Nam, từ thế kỷ thứ I đến sau thế kỷ thứ VI, đi từ Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca vào vịnh Rạch Giá đi thẳng ra Biển Đông qua ngã Vũng Tàu, sau khi đã lưu lại một thời gian cần thiết để tránh bão, đón chờ lúc thuận gió mùa và trao đổi buôn bán nơi các thương cảng Óc Eo ở cửa ngõ phía Tây và Rinai ở cửa ngõ phía Đông. (4)

Thực ra vấn đề về đường biển băng qua đồng bằng Nam Bộ đã được đặt ra rất sớm. Trước hết thương cảng Óc Eo hiện nay nằm sâu trong đất liền đến hàng chục cây số. Phía đông của thương cảng này còn lại dấu vết cửa sông đổ vào vịnh biển cổ, mà nền của vịnh này là một nhánh biển sâu trung bình 15-20m còn để lại những cột án tiêu hàu biển Crassostrea gigantissima quanh vùng núi Chóc (5). Về sau cửa sông cổ này kéo dài ra đến tận Rạch Giá và một tiền cảng được thiết lập trong khoảng Nền Chùa từ năm 270 đến năm 530. Hiện nay đường bờ vịnh cổ phía đông Ba Thê được lưu dấu bằng một hệ thống các lung chạy song song với Lung Lớn; lung này nối vào hệ thống các kinh đào cổ của kinh đô Phù Nam .

Lộ trình giao thương đường biển có ý nghĩa sống còn với một quốc gia - đô thị như Phù Nam . Trên thực tế nước Phù Nam và các xã hội hậu Phù Nam đã chi phối con đường hương liệu băng qua vùng Đông Nam Á bằng các sản vật buôn bán, bằng đồng tiền làm phương diện tài chánh, và bằng các tiện nghi hạ tầng cùng dịch vụ bến cảng. Bước đầu dấu tích về các tiện nghi bến cảng đã được tìm thấy; đồng bạc Phù Nam phát tán rộng từ Đông Dương qua Miến Điện đến Hồng Kông và qua các quốc gia hải đảo; các sản vật đặc hữu của Óc Eo đã được tìm thấy nơi các thương điếm trên con đường hương liệu từ Ai Cập đến Nhật Bản - trong đó có ít nhất một dòng thuỷ tinh, một loại ngọc lựu gọi là Hessonite và loại trầm hương rất quý của loài dó bầu Aquilariacrassna mà các nhà buôn Nabat ở Petra gọi là “ud”, không loại trừ đây là tên gọi địa danh tương tự Óc Eo. (6)

Vị trí các hệ thống đứt gãy chi phối đường bờ biển cổ và dòng chảy các sông
Vị trí các hệ thống đứt gãy chi phối đường bờ biển cổ và dòng chảy các sông
Điều mà chúng ta biết cho đến nay là ở đồng bằng Nam Bộ trong giai đoạn Phù Nam không chỉ có một thương cảng Óc Eo và một tiền cảng Nền Chùa, mà một loạt các thương điếm từ Óc Eo qua Đá Nổiđến Phú Long gấn Sa Đéc và Gò Thành ở Vĩnh Long, rồi các trung tâm ở vùng Mỹ Tho - Gò Công trước khi đến Cần Giờ để đổ ra biển Đông. Tất cả các địa điểm này được tìm thấy trên bờ bắc của vùng vịnh cổchạy theo hướng đông - tây, từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông cổ Cửu Long. Bờ bắc được cấu tạo bởi một hệ thống đứt gãy sâu làm cho vùng trũng trung tâm đồng bằng Nam Bộ thường xuyên lún sâu so với haiđới nâng phía trong ở phần bắc và phía ngoài ở phần nam: vào kỳ biển dâng vùng trũng trung tâm trở thành nhánh biển, sang kỳ biển rút nó trở lại thành một vịnh biển, và khi nước biển rút sâu hơn nữathì các lạch biển dọc theo đường bờ bị đào lòng sâu thành sông, tạo ra sự liên tục cho thuỷ lộ ngang qua đồng bằng cho đến cuối kỳ biển tiến Đông Hải.

Những mô tả trong các văn bản cổ của người Nabat ở Trung Đông cho thấy trong vài thế kỷ trước và sau Công Nguyên họ đã đến buôn bán nơi thương cảng Óc Eo - mà sản vật chính là “ud” tức loại trầm hương rất đắt giá - và một thương cảng khác gọi là Rinai trước khi theo bờ duyên hải để đến mua hàng gia vị và hương liệu miền Trung (7). Theo cách mô tả này thì Rinai có thể là một địa điểm nào đó về phía đông ngang khoảng Bà Rịa - Đồng Nai ngày nay. Ký sự của hai sứ thần Trung Hoa Chu Ứng và Khang Thái đến đây trong khoảng năm 230 cho thấy họ đã phải đi qua hàng trăm dặm dọc theo các con sông trong vùng rừng sát để đến kinh đô Phù Nam - nhiều khả năng họ đã tiến vào đồng bằng Nam Bộ theo ngả rừng sát Cần Giờ sau khi đã xuôi thuyền dọc theo duyên hải miền Trung.

Cũng trong tập ký sự gọi là “Chuyện lạ ở phương nam” này họ đã mô tả các con tàu Phù Nam đủ lớn để chở hàng trăm người với 40 - 50 tay chèo, tàu có bốn cột buồm với các cánh buồm nằm nghiêng rộng khoảng 10 bộ. Hoạt động thương thuyền Óc Eo vào thời đó rất có quy củ: Yiyuan viết rằng các chủ tàu Phù Nam chỉ lấy tiền công khi thuyền của họ đến nơi đúng hẹn (8). Từ thế kỷ thứ IV các đoàn tàu Ba Tư cũng băng qua hải lộ này, ghé lại các cộng đoàn người Iran ở Mã Lai và ở Óc Eo trước khi đi vào Biển Đông; lộ trình của họ vẫn được giữ nguyên cho đến thế kỷ thứ VIII, nghĩa là hải lộ băng qua đồng bằng vẫn còn lưu thông được cho đến một vài trăm năm sau đỉnh cao biển tiến Đông Hải xảy ra giữa thế kỷ thứ VII.

Nhưng thế kỷ thứ VIII khi Marco Polo du hành từ Trung Hoa qua Mã Lai thì con tàu phải đi võng qua mũi Cà Mau để đến eo biển Malacca. Có thế nước biển dâng cao trong các năm 650 SCN đã làm chìm ngập các đô thị trên bờ vịnh cổ và rồi lộ trình giao thương băng qua đồng bằng cũng bị bồi lấp, dẫn đến hiện tượng suy thoái các trung tâm văn hoá cổ ở đồng bằng Nam Bộ. Các sông Long Xuyên, sông Lấp Vò và đoạn sông Tiền từ Sa Đéc đến Cửa Tiểu, Cửa Đại có thể là dấu vết còn lại của hải lộ quan trọng trước đây.

______________

Chú thích

1- Tạp chí Thất Sơnsố 103 (2006): Văn hoá Óc Eo - từ truyền thống nông nghiệp đến văn minh đô thị; và Tạp chí Văn hoá Lịch sửsố 27 (2006): Gò Cây Thị An Giang - một di chỉ đền thờ lộ thiên.

2- Tổng hợp tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả về hải xâm - hải thoái ở đồng bằng Nam bộ và vùng bờ Thái Bình Dương.

3- Tạp chí Khoa học Xã hộisố 18 (1993): Dữ kiện mới liên quan đến văn hoá cổ Óc Eo tại An Giang; và số 34 (1997): Thay đổi môi trường tác động đến sự phát triển và tàn lụi của vương quốc Phù Nam .

4- Tạp chí Xưa và Naysố 256 (2005): Con đường hương liệu qua vùng Đông Nam Á; và Tạp chí Thất Sơnsố 102 (2006): Vị trí Ba Thê - Óc Eo trên con đường hương liệu.

5- Theo kết quả khảo sát của tác giả trong các đề tài nghiên cứu thuộc Chương trình 06 và 60-02.

6- Tạp chí Xưa và Naysố 236 (2005): Nhận diện đá quý qua di vật văn hoá Óc Eo.

7- Tạp chí Kiến thức Ngày naysố 558 (2006): Đoàn tàu Ba Tư và những người Iranđầu tiên đến Việt Nam .

8- Tạp chí Thất Sơnsố 95 (2005): Văn hoá Óc Eo - Thương thuyền và hoạt động thương thuyền.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.