Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/07/2012 21:41 (GMT+7)

Giáo dục, đào tạo đồng bằng sông Cửu Long sau 5 năm thực hiện Quyết định 20/2006/QĐ-TTg


1. Dẫn nhập

Vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố, có diện tích 40.518,5 km 2, dân số 17.213.400 người. Đây là một vùng đất trù phú, có vị trí địa lý thuận lợi: Một phía giáp TP HCM và miền Đông Nam Bộ - trung tâm công nghiệp của cả nước, một phía giáp biển Đông - điều kiện để phát triển ra các nước trong khu vực bằng đường biển. Vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn đứng đầu cả nước về sản xuất và xuất khẩu gạo, thủy sản và trái cây; đứng thứ ba về tỷ trọng đóng góp GDP nhưng lại luôn là “vùng trũng” về giáo dục - đào tạo.

Hội nghị “Phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được tổ chức tại Cần Thơ tháng 8 năm 2005, đã đánh giá một cách toàn diện những yếu kém trong giáo dục - đào tạo của vùng: Là vùng xếp ở vị trí cuối bảng về tỷ lệ học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông trên 1.000 người dân và thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước; mạng lưới trường lớp còn thiếu và chưa hợp lý; số lượng các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề quá ít; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng... Giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tụt hậu 05 năm so với mặt bằng chung của cả nước và ít nhất 10 năm so với vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ; quy mô giáo dục - đào tạo chưa tương xứng với tầm vóc và vị trí chiến lược của vùng.

2. Quyết định 20/2006/QĐ-TTg

Ngày 20/1/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 (Quyết định số 20) với mục tiêu: “1) Nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực của vùng đồng bằng sông Cửu Long để phát huy sức mạnh của vùng, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển kinh tế toàn diện, bền vững, trở thành một vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; 2) Phấn đấu đến năm 2010 chỉ số phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề của đồng bằng sông Cửu Long ngang bằng chỉ số trung bình của cả nước” (Trích Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg, ngày 20/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ).

Quyết định số 20 đã đưa ra các chỉ tiêu cơ bản để đảm bảo chỉ số giáo dục - đào tạo của vùng đến năm 2010 ngang bằng chỉ số trung bình của cả nước: “Về giáo dục mầm non: Đáp ứng từ 15% - 17% trẻ dưới 3 tuổi gửi nhà trẻ, thu hút từ 65% - 67% số trẻ 3 - 5 tuổi đi học mẫu giáo, huy động 90% - 95% trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo lớn; về giáo dục tiểu học: Huy động 99% học sinh trong độ tuổi tiểu học đến trường; về giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông: Đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học đúng độ tuổi trở lên từ 87% - 90%, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông đạt 50% trở lên; về giáo dục nghề nghiệp: Tăng chỉ tiêu tuyển mới đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hàng năm để quy mô đào tạo trung cấp chuyên nghiệp chiếm khoảng 5% dân số từ 16 đến 20 tuổi...; về giáo dục đại học: Đạt tỷ lệ bình quân 150 sinh viên/ 1 vạn dân...” (Trích Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg, ngày 20/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ).

3. Giáo dục-đào tạo đồng bằng sông Cửu Long sau 5 năm thực hiện Quyết định 20/2006/QĐ-TTg

Sau 05 năm thực hiện Quyết định 20 cùng với thực hiện Đề án kiên cố hóa trường lớp và nhà công vụ giáo viên, giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được khơi dậy, có những bước chuyển mạnh mẽ và mang một diện mạo mới. Quy mô trường, lớp, học sinh năm học 2010 - 2011 tăng nhiều so với năm học 2005 - 2006. Năm học 2010 - 2011, toàn vùng có 1.674 trường mầm non với 504.739 cháu; 3.199 trường tiểu học với 1.500.532 học sinh; 1.387 trường trung học cơ sở với 860.771 học sinh; 354 trường trung học phổ thông với 389.385 học sinh ( Nguồn:Báo cáo kết quả triển khai nhiệm vụ học kỳ I và tình hình triển khai học kỳ II năm học 2010 - 2011 các Sở Giáo dục và Đào tạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Báo cáo sơ kết học kỳ I và nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010 - 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ). Tính đến tháng 6 năm 2010, toàn vùng đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hệ thống trường lớp khang trang hơn; giáo viên an tâm giảng dạy hơn nhờ có nhà công vụ, trung học chuyên nghiệp, giảng viên, sinh viên đều tăng cao.

Tuy nhiên, giáo dục - đào tạo đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn đó nhiều hạn chế, tồn tại của mình, làm cho mục tiêu cơ bản về giáo dục - đào tạo của Quyết định 20 không đạt.

Một là,tình trạng học sinh bỏ học mặc dù đã giảm so với các năm học trước nhưng vẫn còn cao hơn so với cả nước. Đây là một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của giáo dục vùng đồng bằng sông Cửu Long. Học kỳ I năm học 2010 - 2011, tỷ lệ học sinh bỏ học còn nhiều, nhất là ở cấp trung học cơ sở (1,31%) và trung học phổ thông (1,86%). Một số tỉnh có số học sinh bỏ học cao ở bậc tiểu học là Cà Mau (0,45%), Hậu Giang (0,42%), An Giang (0,41%); ở bậc trung học cơ sở là Trà Vinh (1,74%), Kiên Giang (1,68%), An Giang (1,60%); ở bậc trung học phổ thông là Hậu Giang (3,09%), Kiên Giang (2,63%), Cà Mau (2,14%) ( Nguồn:Báo cáo kết quả triển khai nhiệm vụ học kỳ I và tình hình triển khai học kỳ II năm học 2010 - 2011 các Sở Giáo dục và Đào tạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Báo cáo sơ kết học kỳ I và nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010 - 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cần Thơ).

Hai là,mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy chưa đáp ứng yêu cầu.

Hiện toàn vùng còn 215 xã chưa có trường mầm non, 88 xã chưa có trường trung học cơ sở. Số phòng học tre lá xuống cấp, hết niên hạn sử dụng còn nhiều. Cơ sở vật chất và thiết bị đồ dùng dạy học ở nhiều cơ sở giáo dục không đáp ứng yêu cầu. Ngay cả ở bậc giáo dục đại học, tình trạng thiếu phòng học, thiếu trang bị dạy nghề... vẫn còn tồn tại ở nhiều trường.

Ba là,số lượng sinh viên đại học, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa hợp lý.

Số lượng sinh viên đại học, cao đẳng toàn vùng hiện nay là 133.098 sinh viên ( Nguồn:Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Quy hoạch phát triển nhân lực các tỉnh vùng Tây Nam Bộ), tỷ lệ sinh viên đại học trên 1 vạn dân còn quá xa so với chỉ tiêu đặt ra đến năm 2010 là 150 sinh viên trên 1 vạn dân của Quyết định số 20. Lao động qua đào tạo, số lao động có trình độ từ sơ cấp đến đại học chỉ chiếm dưới 10%.

Số sinh viên trong vùng theo học khối ngành kinh tế, tài chính đông; số sinh viên theo học khối ngành thế mạnh của vùng như nông, lâm, ngư nghiệp thấp, chỉ chiếm khoảng 10,4%; ngành y dược khoảng 5%, còn các ngành văn hóa nghệ thuật chỉ chiếm dưới 1% ( Nguồn:Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Quy hoạch phát triển nhân lực các tỉnh vùng Tây Nam Bộ).

Bốn là,chất lượng của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo còn hạn chế; còn thiếu giáo viên ở hầu hết các cấp.

Mặc dù đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo có sự tăng cường về chất nhưng chưa được thực hiện đồng bộ trong toàn vùng. Sở Giáo dục và Đào tạo một số tỉnh chưa thực sự chú trọng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nên chưa tranh thủ được các nguồn lực, các chương trình, dự án của Nhà nước, của vùng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành giáo dục - đào tạo. Đề án “Đào tạo 1.000 cán bộ khoa học kỹ thuật sau đại học ở nước ngoài cho 13 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long” (Chương trình Mekong 1.000) được thực hiện từ năm 2005 nhưng đến năm 2010, có quá ít ứng viên của ngành giáo dục - đào tạo, cá biệt một số tỉnh vẫn chưa có ứng viên nào tham gia đề án này.

Năm học 2010 - 2011, toàn vùng có 199.591 cán bộ, giáo viên, trong đó tuyển dụng mới trên 8.637 người ( Nguồn:Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 các Sở Giáo dục và Đào tạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Báo cáo sơ kết học kỳ I và nhiệm vụ trọng tâm học kỳ II năm học 2010 - 2011 của Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ). Tuy nhiên, số tuyển mới vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nên tình trạng thiếu giáo viên ở một số bộ môn như nhạc họa, thể dục thể thao và giáo viên mầm non vẫn còn phổ biến ở hầu hết các tỉnh. Đội ngũ nhân viên y tế trường học, giáo viên phụ trách công tác thư viện, thiết bị trường học thiếu so với yêu cầu.

Lực lượng giáo viên, giảng viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề thiếu nhiều do số lượng các trường tăng nhanh. Số lượng giảng viên các trường đại học, cao đẳng và giáo viên các trường trung cấp chuyên nghiệp có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ còn quá ít.

Quyết định 20 thể hiện quan điểm, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, sau 05 năm thực hiện, giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa thoát khỏi “vùng trũng”, chưa thể hoàn thành sứ mệnh “nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực để phát huy sức mạnh của vùng, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển toàn diện, bền vững, trở thành một vùng kinh tế trọng điểm của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao” mà Quyết định 20 đặt ra. Bên cạnh đó, dù là vùng có nhiều lợi thế phát triển nhưng khối lượng GDP vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn đứng thứ ba sau vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng nhưng có xu hướng ngày càng giảm về tỷ trọng đóng góp cho cả nước.

4. Một số giải pháp để phát triển giáo dục – đào tạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới

Để giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội tương xứng với tiềm năng của vùng, cần thực hiện tốt các giải pháp sau.

a. Tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục - đào tạo, lồng ghép chính sách phát triển giáo dục - đào tạo với các chương trình phát triển kinh tế xã hội của vùng.

Chính sách phát triển giáo dục - đào tạo chung của cả nước cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long phải không ngừng bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội. Chính sách phát triển giáo dục - đào tạo không thể tách rời mà phải được lồng ghép trong chiến lược, chương trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của toàn vùng cũng như của từng địa phương.

Quyết định 20 cần phải tiếp tục thực hiện hoặc được bổ sung, hoàn thiện và thể hiện dưới một văn bản quy phạm pháp luật mới. Trong đó, các mục tiêu, chỉ tiêu và hệ thống giải pháp xây dựng mang tính khả thi hơn và phải tính đến các yếu tố mang tính đặc thù của vùng; đồng thời, phải huy động được nguồn lực cũng như trách nhiệm của các bộ, ngành đối với giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Các cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến giáo dục - đào tạo, bên cạnh thể hiện tính chung cho cả nước cũng phải tính đến các yếu tố đặc thù của từng vùng, đặc biệt là những vùng “trũng” về giáo dục - đào tạo như vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên.

Ủy ban Nhân dân các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long cần chủ động xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo phù hợp với điều kiện đặc thù của tỉnh mình.

b. Tăng cường vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương; các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo.

Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo đối sự phát triển kinh tế - xã hội để xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo của địa phương. Phát huy tính năng động, sáng tạo của từng địa phương nhưng phải tạo được tính đồng bộ trong toàn vùng. Các mô hình, cách làm hay phải được phổ biến, nhân rộng để giáo dục - đào tạo phát triển một cách đồng bộ, toàn diện trong toàn vùng.

Các cơ quan quản lý giáo dục - đào tạo (Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo) phải mạnh dạn tham mưu, đề xuất trong triển khai thực hiện chính sách về giáo dục - đào tạo. Xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp; tranh thủ các chương trình, dự án, đề án của nhà nước, của vùng, của tỉnh để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có chất lượng cao. Phối hợp với các ban, ngành có liên quan, tham mưu chính quyền thực hiện tốt Đề án kiên cố hóa trường lớp, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học...

Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong vùng triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020.

c. Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục - đào tạo.

Phát huy vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hướng dẫn, giám sát đối với giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ủy ban Nhân dân các cấp, các Sở Giáo dục và Đào tạo, các Phòng Giáo dục và Đào tạo phải thực hiện tốt các nội dung về quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo được quy định trong Luật Giáo dục, Nghị định 115/2010/NĐ-CP, Quyết định 579/QĐ-TTg và các văn bản khác có liên quan.

Tiếp tục thực hiện phân cấp trong quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và giao quyền tự chủ, chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục - đào tạo.

d. Tăng cường đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa để tăng nguồn lực cho giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chính phủ quan tâm, đầu tư cho giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long ngang bằng hoặc hơn các vùng khác trong cả nước. Bộ Giáo dục và Đào tạo định hướng tạo các nguồn kinh phí cho vùng một cách hợp lý. Huy động nguồn vốn tài trợ, vốn huy động của các doanh nghiệp, đóng góp của nhân dân cho giáo dục - đào tạo của vùng.

e. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tăng chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo giáo viên các ngành hiện đang thiếu giáo viên.

5. Kết luận

Vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn được xác định là một vùng kinh tế quan trọng, có nhiều tiềm năng phát triển. Trong xu thế hội nhập, vùng đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển. Song, đồng bằng sông Cửu Long sẽ không thể phát huy được những lợi thế của mình với nguồn nhân lực có chất lượng hạn chế như những năm qua. Theo quan điểm “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, Nhà nước phải có chính sách và sự đầu tư thỏa đáng để giáo dục - đào tạo thực sự là “trái tim mạnh”, góp phần quyết định đối với sự phát triển của vùng như nhà cải cách giáo dục, danh nhân văn hóa thế giới, người Nga A. S. Makarenko đã từng nói: “Nền giáo dục giống như trái tim, còn có những công dân sống và làm việc trong xã hội giống như những giọt máu, được tim co bóp để nuôi sống cơ thể - tức là xã hội”./.

Bùi Ngọc Hiền - Tạp chí Khoa học xã hội, số 3/2011, 81-86

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.