Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 29/03/2013 22:27 (GMT+7)

Giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu và thách thức

Theo Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (WB), tỉ lệ nghèo đã giảm liên tục trong vòng khoảng hai thập niên qua, từ 58% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, 28,9% năm 2002, 16% năm 2006 và 14,5% năm 2008; khoảng 30 triệu người đã thoát nghèo.

Đối với những người còn chưa thoát nghèo cũng có chất lượng cuộc sống được cải thiện đáng kể như sự thiếu hụt tiêu dùng của người nghèo ở mức trung bình so với ngưỡng nghèo, được đo bằng tỉ lệ khoảng cách nghèo cũng đã giảm liên tục từ 18,5% năm 1993 xuống mức rất thấp là 3,5% năm 2008; tương tự, thước đo về mức độ trầm trọng của nghèo đói cũng đã giảm từ 7,9% xuống còn 1,2%. Các chỉ số phi thu nhập thể hiện sự tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ xã hội cơ bản và cơ sở hạ tầng là giáo dục, y tế, điện, đường, nước, vệ sinh dịch tễ… đều khẳng định xu hướng tích cực này; đơn cử năm 1993, chưa đến 37% người nghèo được sử dụng điện, thì nay gần 90% người nghèo đã có điện sử dụng sinh hoạt. Những đặc tính của nhóm nghèo cũng đã thay đổi đáng kể như quy mô hộ của một gia đình nghèo điển hình giảm từ 5,2 người năm 1993 xuống còn 4,8 người năm 2008; tương tự, tỉ lệ người sống phụ thuộc giảm từ 55% xuống còn 49,7%, cho dù tỉ lệ này còn cao hơn so với các hộ gia đình không nghèo. Tỉ lệ hộ nghèo có chủ hộ học hết tiểu học tăng lên, nhưng tỉ lệ hộ nghèo với chủ hộ có học vấn cao hơn tiểu học lại giảm xuống; điều đó diễn giải tại sao các hộ nghèo chuyển đổi cơ cấu sản xuất khá chậm, nhất là hộ nghèo làm nông nghiệp giảm khá khiêm tốn, từ 51,3% năm 1993 xuống còn 47,3% năm 2008. Sự tăng mạnh của tỉ lệ hộ nghèo có chủ hộ là người dân tộc thiểu số, tăng từ 17,7% năm 1993 lên 40,7% năm 2008, nói lên sự thay đổi lớn nhất trong đặc tính của nhóm nghèo và vấn đề nghèo đang có xu hướng tập trung nhiều hơn ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số do sự tiến bộ không đồng đều trong giảm nghèo giữa các nhóm dân cư khác nhau về mức sống, về sở hữu tài sản bao gồm khả năng tiếp cận đất đai, các dịch vụ xã hội cơ bản, trình độ học vấn và về tiến độ giảm nghèo. Sự khác biệt lớn nhất về thành tựu giảm nghèo giữa nhóm đồng bào người Kinh, người Hoa với nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, theo đó, nhóm người kinh, người Hoa có mức giảm nghèo 53,9% năm 1993 xuống 9% năm 2009, nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tương tự là 86,4% xuống 50,3%. Tỉ lệ nghèo ở nông thôn năm 1993 là 66,4% và 18,7% năm 2008; tương tự ở thành thị là 25,1% và 3,3%. Tỉ lệ nghèo ở vùng, miền cũng khác nhau: vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng giảm nghèo diễn ra nhanh hơn, với 3,5% và 8,1% năm 2008; tương tự, vùng Tây Bắc 45,7%, vùng Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ là 24,3%, 24,1% và 22,6%, cao hơn Nam Trung Bộ là 13,7%. Trong mỗi nhóm dân cư, tỉ lệ giảm nghèo cũng khác nhau như nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ nghèo đồng bào HMông ở mức 83,4%, đồng bào Tây Nguyên 75,2%, đồng bào Khơme 23,1%, đồng bào Tày 32,1%.

Việt Nam đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo, nhưng một bộ phận dân cư chưa thoát khỏi hẳn bẫy nghèo đói; điều đó khác hẳn so với 20 năm trước đây là một chính sách có thể tác động tích cực đến từng nhóm dân cư, thì ngày nay cần có chính sách bao trùm hơn tính đến đặc thù của từng nhóm thì mới mang lại hiệu quả cao trong việc giảm nghèo và giúp đất nước tránh được “bẫy bất bình đẳng”.

Theo các chuyên gia, vấn đề đầu tiên là phân tích động thái nghèo để tiếp tục làm rõ sự đa dạng của nhóm người nghèo và sự khác biệt giữa nghèo ở trạng thái tĩnh và nghèo ở trạng thái động, từ đó làm căn cứ để xây dựng chính sách giảm nghèo. Đó là những người nghèo kinh niên, những người có sự thay đổi trạng thái nghèo (khi thuộc nhóm nghèo, khi không thuộc), những người thoát nghèo bền vững và nhóm người nghèo nhất thời. Vì qua ba cuộc điều tra mức sống dân cư vào các năm 2002, 2004 và 2006 thì mặc dù tỉ lệ nghèo giảm đều từ 28,9% năm 2002, còn 16% năm 2006, 35% dân số đã từng ở trong trạng thái nghèo, trong đó có ¼ vẫn đang sống trong cảnh nghèo kinh niên (liên tục nghèo trong cả giai đoạn, chiếm 9,3% dân số) và ¾ có sự thay đổi trạng thái nghèo, những người thoát nghèo bền vững chiếm 11,3% tổng dân số (trên 30% dân số nghèo), những người nghèo nhất thời 14,4% (trên 40% dân số nghèo). Phân tích những khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc về động thái nghèo: nhóm dân tộc thiểu số, những người nghèo kinh niên chiếm tỉ lệ cao nhất 39,2%, nghèo nhất thời 29,4%, thoát nghèo bền vững 12,8%, chưa bao giờ nghèo 18,6%; nhóm người Kinh, người Hoa tương tự là 6,1%, 12,2%, 11,8%, 70%. Vùng Bắc Trung Bộ chiếm tỉ lệ lớn nhất trong nhóm nghèo kinh niên 32,6%, vùng núi phía Bắc 24,9%, Tây Nguyên 21,8%, đồng bằng sông Cửu Long 10,4%, đồng bằng sông Hồng 3,8%, Đông Nam Bộ 0,8%. Nhóm nghèo kinh niên có đặc điểm là thời gian năm 2002 có 30,7% tỉ lệ người sống phụ thuộc vào chủ hộ, trong khi tỉ lệ trung bình cả nước là 16,3%; tỉ lệ chủ hộ chưa qua giáo dục tiểu học 57,8% so với tỉ lệ trung bình cả nước 31,5%; thiếu điện 36,8% so với tỉ lệ trung bình cả nước 11,9% và thiếu nước sạch 87,1%, cả nước trung bình 57,2%. Với nhóm thoát nghèo bền vững, tỉ lệ chủ hộ hoàn thành giáo dục phổ thông cơ sở 37%; tương tự nhóm nghèo kinh niên 11%, nhóm nghèo nhất thời 27,1%. Cần có các giải pháp khác nhau đối với nhóm nghèo kinh niên và nghèo nhất thời. Với nhóm nghèo kinh niên, là nhóm có trạng thái nghèo ở dạng tĩnh, nên hỗ trợ xã hội gồm các chương trình mục tiêu là phù hợp và điều quan trọng là phải cải thiện việc xác định hộ nghèo; đưa ra hình thức hỗ trợ phù hợp cho từng nhóm đối tượng dựa trên nhu cầu đa dạng của những người nghèo để giảm thiểu rò rỉ, mở rộng độ bao phủ, tăng mức hỗ trợ, đơn giản hóa các khâu thiết kế, tổ chức thực hiện chương trình nhằm giảm chi phí giao dịch và tránh tâm lý ỷ lại của những người nghèo nhận hỗ trợ. Với nhóm nghèo nhất thời, các chương trình mục tiêu giảm nghèo có thể không thực sự hiệu quả trong việc hỗ trợ, vì danh sách hộ nghèo cập nhật hàng năm và đôi khi phụ thuộc vào “chỉ tiêu” cấp trên giao… khi việc thoát nghèo hay rơi vào trạng thái nghèo lại diễn ra nhanh hơn dưới tác động của các cú sốc như mất việc, thiên tai, dịch bệnh…

Để giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững và bảo vệ những người không nghèo bị rơi vào nghèo đói trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, theo các chuyên gia là phải tiếp cận đến vấn đề giảm nghèo một cách toàn diện như mở rộng cơ hội, giảm thiểu rủi ro và khả năng bị tổn thương và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…đồng thời cần quản lý tốt hơn các rủi ro mang tính hệ thống ở cấp độ nền kinh tế và cấp độ hộ gia đình hoặc cấp từng cá nhân. Ở cấp hệ thống, cần cần xác định tốc độ tự do hóa tài chính phù hợp và xây dựng cơ chế giám sát, điều tiết hiệu quả; phòng ngừa bong bóng tài sản; nâng cao tính dễ tiên liệu và sự nhất quán giữa các chính sách tài khóa và tiền tệ, tăng tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái. Ở cấp độ hộ gia đình và từng cá nhân, cần đổi mới và hoàn thiện các hệ thống an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách đối với người cao tuổi… Đối với việc giảm nghèo nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, cần có giải pháp tăng cường nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực với các chính sách tạo khả năng tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng, việc làm có thu nhập, giảm thiểu rào cản ngôn ngữ, cải thiện chất lượng giáo dục, tránh định kiến về năng lực…

Cũng theo các chuyên gia, công cuộc giảm nghèo chưa được hoàn tất và tiếp tục phải duy trì, vì trước mắt cần rất nhiều thời gian để giúp giảm nghèo một cách căn bản trong khi các hình thức nghèo mới có nhiều khả năng phát sinh và các hình thức nghèo hiện hữu khắc phục khó khăn hơn. Đơn cử tỉ lệ nghèo đô thị ở mức rất thấp, nhưng việc giải quyết vấn đề này rất khó khăn, song không cho phép được chậm trễ; bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tăng do quá trình đô thị hóa, dẫn đến sự không đồng đều trong việc tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, nảy sinh nhiều xung đột lợi ích giữa các nhóm; vấn đề biến đổi khí hậu… Đó là những vấn đề tác động đến nghèo đói phải được giải quyết với những giải pháp đồng bộ, kịp thời và phù hợp trong thời gian tới.


Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.