Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/02/2007 17:41 (GMT+7)

Đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với một nghịch lý

ĐBSCL do phù sa thượng nguồn của sông Đồng Nai, Cửu Long và nước biển bồi đắp; cho nên đất đai thấp, bằng phẳng, nhiều sông rạch và rất phì nhiêu, nhưng đời sống của người dân còn rất khó khăn.

Lý do nghèo khó của nông dân phát xuất từ một đời sống hoàn toàn dựa vào nền nông nghiệp. Giá cả nông sản chính như ngũ cốc trên thế giới sút giảm liên tục từ giữa thập niên 1970, trong khi chi phí đầu vào, đặc biệt phân hóa học, thuốc sát trùng và nhân công tiếp tục gia tăng. Ngoài ra, còn thiếu chính sách trợ giúp phù hợp cho nông dân sống trong cảnh nghịch lý này, nên tình trạng nghèo khó không thể tránh được. Thông thường, sự nghèo khó bắt buộc nông dân cố gắng sản xuất nhiều thêm để sinh tồn, để đủ nuôi gia đình; cho nên, mức sản xuất ngày càng tăng thêm, sản lượng lúa dư thừa dành cho xuất khẩu, nhưng gia đình họ vẫn còn sống trong thiếu thốn!

Trên thế giới, chưa thấy một nước nông nghiệp nào trở nên giàu mạnh. Chỉ thấy các nước phát triển, trong quá trình tiến bộ của họ, đã chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp qua công nghiệp, dịch vụ và thông tin. Nước Mỹ trong giai đoạn lập quốc, nông nghiệp chiếm 90%, năm 1900 còn 40% và hiện nay dưới 1%, nhưng họ vẫn sản xuất dư thừa thực phẩm. Cho nên, ĐBSCL phải dứt khoát tranh thủ chuyển mình phát triển kinh tế với tỉ trọng nông nghiệp giảm dần, tăng tốc phát triển công nghiệp nhỏ và vừa, dịch vụ và du lịch; nếu không, cần phải có giải pháp trợ cấp đầy đủ để nông dân có đời sống tốt hơn, không quá cách xa đô thị, như từng thấy ở các nước phát triển.

Những nỗ lực chủ yếu cho phát triển ĐBSCL

Trước tiến trình toàn cầu hóa và sự gia nhập vào WTO của đất nước, những nỗ lực xây dựng và phát triển kinh tế của ĐBSCL càng trở nên cấp bách để xóa đói giảm nghèo và cải tiến mặt văn hóa và giáo dục ngõ hầu hội nhập mau lẹ vào cộng đồng thế giới.

Để thay đổi bộ mặt hiện nay của ĐBSCL, cần có một số sách lược và quy hoạch thích đáng:

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng để không còn độc canh lúa gạo mà phải kết hợp với thủy sản, chăn nuôi, dịch vụ và du lịch. Trong 30 năm qua (1975 - 2005), Trung Quốc đã giảm đất trồng lúa được 7 triệu hecta để dành cho các sản xuất khác có lợi tức cao hơn. Ở ĐBSCL, cần phát triển các khu công nghiệp chế xuất, đô thị hóa nông thôn để giúp chuyển đổi lao động nông nghiệp sang công nghiệp nhỏ và vừa và dịch vụ, nhằm giảm tỉ trọng nông nghiệp. Cần tăng nguồn vốn đầu tư cho công nghiệp chế xuất, kinh tế biển, dịch vụ và du lịch trong vùng. Cần nâng cao tầm cạnh tranh quốc tế cho các sản phẩm nông nghiệp, ưu tiên cho phát triển nhanh công nghiệp chế biến nông sản và khuyến khích xây dựng các thương hiệu nông sản, nhất là đặc sản Việt Nam .

- Cần có chiến lược xuất khẩu gạo để vừa thu được kim ngạch cao vừa giúp nông dân tăng lợi tức. Không nên đặt chỉ tiêu xuất khẩu gạo hàng năm mà quên đi đời sống và lợi tức của người trồng lúa. Điều này có thể thực hiện được nếu Việt Nam và Thái Lan không cùng nhau cạnh tranh tăng xuất khẩu, giá gạo thế giới sẽ không còn giảm, trái lại có khuynh hướng tăng lên. Theo thống kê của cơ quan FAO, từ khi Việt Nam tăng gia xuất khẩu gạo trong thập niên 1990, giá gạo thế giới liên tục sút giảm. Gần đây Việt Nam lại tăng xuất khẩu hàng năm từ 4 lên 5 triệu tấn gạo và Thái Lan từ 8 lên 10 triệu tấn gạo đang làm giá gạo dao động không ít. Nhưng nông dân của cả hai nước được hưởng lợi ích gì? Một chuyên gia quốc tế bảo: “châu Âu không cần gạo trợ cấp!”.Trung Quốc và Malaysia có chính sách lúa gạo khôn ngoan hơn, chỉ sản xuất lúa đủ đảm bảo tự túc 90% và 65%, theo thứ tự. Việt Nam cần xét lại chỉ tiêu xuất khẩu gạo hàng năm, hạ giá thành sản xuất và nâng cao chất lượng, ngoài cải tiến quản lý xuất khẩu.Người viết rất ngạc nhiên nhận thấy rằng gạo xuất khẩu Việt Nam không có mặt nhiều ở thị trường Bắc Mỹ, trong khi gạo Thái Lan tràn ngập, chiếm hơn 90% thị trường này.

Thái Lan có lợi thế cho xuất khẩu gạo hơn Việt Nam về cả chất lượng và giá thành. Vì nước này chỉ sản xuất lúa gạo chất lượng cao chủ yếu nhờ nước trời, ít sử dụng chất nông hóa và tưới tiêu để xuất khẩu; trong khi nước ta trồng lúa năng suất cao, chất lượng kém hơn trong điều kiện thâm canh tưới tiêu để xuất khẩu. Hy vọng Việt Nam chỉ cần sản xuất đủ lúa năng suất cao năng thâm canh cho mục tiêu an ninh lương thực và tập trung nghiên cứu và sản xuất lúa chất lượng cao trong mùa mưa để tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.

- Chính sách hỗ trợ nông nghiệp phù hợp với WTO: Cần có những chính sách hỗ trợ cho nông dân và các doanh nghiệp nhỏ và vừa phù hợp với các đòi hỏi của WTO, như phát triển hạ tầng cơ sở nông nghiệp (đường sá, điện, thủy lợi), ứng dụng công nghệ mới, khảo cứu, khuyến nông, cung cấp thông tin thị trường, phát triển nguồn nhân lực. Chính phủ đã có Nghị định 66, chủ yếu phát triển ngành nghề nông thôn được hưởng ưu đãi đầu tư, gồm có vốn và đất đai, nhằm hỗ trợ ngành nông nghiệp trong chiều hướng này. Nên nhớ rằng là thành viên của WTO, Việt Nam chỉ có thể dùng 10% giá trị nông sản để hỗ trợ nông nghiệp.

- Cần tái phân lợi tức cho các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu: Các lợi tức xuất khẩu thu hoạch được từ hải thủy sản, lúa gạo, một số nông sản công nghiệp cần được phân phối trở lại các nơi sản xuất này để tiếp tục đầu tư phát triển và cải tiến đời sống kinh tế xã hội nông thôn.

Nguồn: Khoa học phổ thông 22/12/2006

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.