Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 25/07/2007 22:51 (GMT+7)

Đời sống tâm linh đồng bào Khơ-me Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất tập trung nhiều dân tộc cùng sinh sống như người Việt, Hoa, Khơ-me, Chăm... Đời sống tâm linh của người Khơ-me Nam Bộ rất phong phú, chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo, phái tiểu thừa và ít nhiều là một số ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo.

·Ngôi chùa trong phum sróc

Đối với bất cứ người Khơ-me nào, ngôi chùa cũng mang một tình cảm thiêng liêng sâu sắc, bởi vì từ lúc sinh ra, lớn lên, rồi trở về già cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, đều gắn bó với ngôi chùa. Ngôi chùa là biểu tượng tinh thần của cộng đồng dân cư cũng như của từng cá nhân người Khơ-me.

Chùa bao giờ cũng là một công trình kiến trúc hoành tráng, tô điểm lộng lẫy, uy nghi, khác hẳn với các ngôi nhà ở của đồng bào, thường lụp sụp với mái lá, nền đất. Người ta quan niệm ngôi chùa mới là nơi cho họ gởi gắm thực sự cuộc đời mình, còn nhà ở chỉ là tạm bợ. Khi họ qua đời, ngôi chùa sẽ là nơi nương tựa mãi mãi.

Chùa Khơ-me ở Nam Bộ thường gắn liền với những danh lam thắng cảnh và là trung tâm văn hóa của phum sróc. Tại đồng bằng sông Cửu Long có trên 600 ngôi chùa Khơ-me, trong đó có những ngôi chùa rất nổi tiếng như ở Sóc Trăng với chùa Chăm Pa, Chén Kiểu, chùa Đất Sét, đặc biệt nữa, có chùa Dơi (Ma Ha Tốc) được mệnh danh là đẹp nhất Miền Tây. Chùa Khleang là ngôi chùa cổ được xây dựng năm 1533. Ở Trà Vinh cũng có một ngôi chùa cổ rất đẹp là chùa Ông Mẹt. Ở Bạc Liêu nổi tiếng với chùa Xiêm Cán được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX...

Kiến trúc chùa Khơ-me Nam Bộ tập trung đầy đủ tất cả nét đẹp về văn hóa, mỹ thuật và nghệ thuật dân tộc. Các cột, mái đều là những bộ phận kiến trúc tinh xảo mang nhiều nét rất riêng. Ngôi chùa bao giờ cũng tọa lạc giữa một không gian cây cối xanh tươi. Mặt bằng thể hiện ba cấp, với sân rộng bao quanh được lát gạch, đá. Chùa Khơ-me tiêu biểu nhất ở ngôi chính điện thờ Phật, thường có hình chữ nhật, bố trí theo chiều dọc công trình, hai bên sườn mở nhiều cửa sổ, cửa chính đặt về phía đông. Cổng chùa là bộ mặt của quần thể kiến trúc nên được làm rất công phu, có mỹ thuật, thiết kế theo hình tháp. Hoa văn trang trí ở đây rất đẹp và cầu kỳ. Tượng hình rồng được xây trong chính điện, với sắc thái riêng, khác với các chùa ở Campuchia thường là biểu tượng rắn.

Mọi lễ hội định kỳ và không định kỳ của đồng bào Khơ-me đều tổ chức tại chùa. Ngôi chùa hội đủ các yếu tố vật chất và tinh thần để mọi lễ hội diễn ra ở đây đều rất thú vị và sinh động. Điều đáng lưu ý là các lễ hội đều gắn yếu tố mùa vụ với Phật như lễ Chol Chnăm Thmay, Ok om bok, Dol ta... Lễ hội không đơn thuần chỉ là để vui chơi mà còn có ý nghĩa là những đám phước. Đây là dịp sư sãi tụng kinh cầu phước cho các phật tử; còn phật tử thì biểu hiện lòng nhân đức và thành kính bằng những hoạt động đóng góp cho chùa. Trong lễ hội còn diễn ra các loại hình nghệ thuật dân gian như dù kê, rô băm...

Một nét đẹp văn hóa của đồng bào Khơ-me Nam Bộ là tất cả nam giới đều phải biết chữ. Theo phong tục, những người con trai khi lớn lên phải vào chùa tu hành. Ở đó họ được học chữ và học đạo. Đi tu để trở thành người có nhân cách, có văn hóa và cũng là để báo hiếu. Nhà có con trai không đi tu sẽ mang tiếng xấu trong phum sróc. Vào chùa, họ sẽ là thành viên trong Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, thường gọi là “Lục”. Hàng ngày, người thân trong gia đình phải đến dâng cơm cho “Lục”. Khi gặp con, cha mẹ cúi đầu sùng kính. Thời gian tu ba năm, sau khi “sất”(xuất thế), người con trai được nhiều cô gái hỏi cưới làm chồng.

·Một số lễ hội thường niên

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Khơ-me Nam Bộ, lễ hội đóng vai trò rất quan trọng, nó chi phối toàn bộ đời sống tâm linh của họ. Một năm có rất nhiều lễ hội, song ở đây chỉ đề cập đến một số lễ hội tiêu biểu, ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày của đồng bào.

Lễ Phật Đản (Bon visakha Bo Chia)

Lễ được tổ chức vào ngày 15-5 âm lịch theo Phật lịch của phái Tiểu thừa. Lễ diễn ra một ngày, một đêm. Ngày đầu dân chúng đến chùa dâng cơm cho sư sãi và làm lễ tụng kinh mừng Đức Phật ra đời. Trong đêm đó, người ta nghe đọc kinh cầu nguyện. Sáng hôm sau lại dâng cơm cho sư một lần nữa và buổi lễ kết thúc. Đây là một dịp lễ lớn, được tổ chức rất trọng thể với những nghi thức tôn nghiêm và ngày nay vẫn còn được duy trì trong các chùa.

Lễ Ok om bok

Đây là lễ cúng trăng vào đêm 15-10 âm lịch. Lễ này gắn liền với sự tích con thỏ tr ên mặt trăng. Tương truyền thỏ là một trong hơn 500 tiền kiếp của Đức Phật. Thỏ tự nhảy vào lửa nướng mình làm thức ăn cho thần Sekra nên được in hình trên mặt trăng, nêu gương cho mọi người. Ý nghĩa của lễ hội này là để ca ngợi cư dân Khơ-me giàu lòng bố thí, nuôi sống Phật giáo.

Trong dịp lễ Ok om bok, cốm dẹp là lễ vật không thể thiếu. Người Khơ-me chuyên về nông nghiệp, họ tin rằng, nhờ mặt trăng nên có nước lớn - nước ròng, có mưa thuận gió hòa. Nếp là món ăn ngon nhất của họ. Sau khi cúng trăng, mọi người hạ mâm lễ cùng nhau thụ lộc, vừa ăn vừa kể chuyện sản xuất. Nếu có khách phương xa đến dự, chủ nhà gói một ít cốm dẹp để làm quà, thể hiện lòng hiếu khách và tình thân ái nơi xóm làng. Người ta còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian, tạo không khí vui tươi, nhộn nhịp trong mùa lễ.

Lễ dâng phước (Bon đa)

Lễ này có nguồn gốc từ truyện cổ tích trong kinh điển Phật giáo.

Truyện kể rằng, ngày xưa có nàng Milika là vợ vua Pakasêti Kôsol xứ Savathay. Nàng thường làm phước từ nhỏ, nhưng phạm phải lỗi lầm là nói dối chồng và không chung thủy, do đó, khi chết bị đày xuống địa ngục. Lúc này, Đức Phật còn tại thế, nhà vua đến hỏi Đức Phật tại sao vợ ông hay làm phước mà lại bị đày xuống địa ngục. Đức Phật không trả lời ngay mà đợi vợ ông ở dưới địa ngục được bảy ngày mới trả lời:

Hôm nay nhà ngươi hãy về làm phước để dâng phước lành cho vợ được siêu thoát lên cõi Niết Bàn. Dựa vào sự tích này, sau khi người chết được bảy ngày người ta mới làm lễ Bon đa. Buổi tối họ làm lễ bái Tam bảo, thọ Ngũ giới, mời sư về tụng kinh. Sáng hôm sau, sư sãi tiếp tục tụng kinh để cầu siêu, cầu phước, sau đó đem lễ vật vào chùa.

Ngoài một số lễ hội trên, đồng bào còn có rất nhiều lễ hội khác diễn ra trong năm như lễ giỗ ( bon khuôp), lễ cúng ông bà ( bon sen Dolta), lễ tang ma ( bon sop)...

·Văn học - nghệ thuật dân gian

Đặc biệt là các loại hình văn học - nghệ thuật của đồng bào Khơ-me Nam Bộ thường được thể hiện ở các ngôi chùa. Trên cơ sở kế thừa những yếu tố văn hóa cổ truyền, còn có sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa của người Việt, người Hoa cùng định cư trên vùng đất này. Nền văn học - nghệ thuật ở đây rất phong phú, đa dạng, thể hiện những tình cảm sâu sắc, những khía cạnh thâm thúy của cuộc sống, tính vô tư, dí dỏm và yêu đời.

Nghệ thuật sân khấu bao gồm: sân khấu cổ điển rô băm và kịch hát dù kê.

Ở sân khấu rô băm với nghệ thuật tổng hợp: múa, hát, nói, kịch câm, mặt nạ... Trong nội dung vở diễn của rô băm đều có sự tham gia của các thần linh và đa số đều được cấu trúc theo hai tuyến nhân vật biểu hiện cho hai loại người trong xã hội là thiệnác, chánh. Chủ đề của rô băm luôn đề cao tính giáo huấn hướng thiện, thể hiện một tinh thần nhân văn cao cả và có tác dụng trong việc cảm hóa con người (như truyện Vêsondor), hướng con người vào điều thiện, sống vì mọi người.

Nghệ thuật sân khấu dù kê là một loại hình ca nhạc kịch truyền thống. Dù kê xuất hiện trong xã hội Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tư bản phương Tây, tiếp nhận khuynh hướng sân khấu hiện thực của châu Âu kết hợp với phong cách nghệ thuật truyền thống mà hình thành nên loại hình sân khấu mới mẻ này.

Câu chuyện trên sân khấu dù kê là những truyện dân gian, thần thoại của dân tộc Khơ-me và các dân tộc khác, thậm chí là của nước ngoài. Nhưng bao giờ các tuồng tích ấy cũng đều xoay quanh chủ đề “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”. Trong loại hình nghệ thuật này, Tum Tiêulà tác phẩm được đưa lên sân khấu nhiều nhất và chiếm được lòng say mê, ngưỡng mộ của cộng đồng người Khơ-me Nam Bộ, đặc biệt ở Sóc Trăng. Bởi vì, Tum Tiêu chính là một tác phẩm nói về những giá trị đích thực của cuộc sống, về hạnh phúc và bổn phận của con người. Con người phải đấu tranh chống lại những thô bạo trong cuộc sống, những bất công, áp bức và ca ngợi chính nghĩa, lòng thủy chung, cái đẹp và cái thiện.

Đời sống tâm linh của đồng bào Khơ-me Nam Bộ rất phong phú, đa dạng. Ngôi chùa bao giờ cũng là biểu tượng thiêng liêng nhất, là trung tâm tín ngưỡng - tôn giáo, văn hóa, giáo dục của cộng đồng. Trong các loại hình văn hóa - nghệ thuật và cả trong cuộc sống hàng ngày, ảnh hưởng của Phật giáo là rất lớn. Đối với đồng bào, ngôi chùa luôn tồn tại ở vị trí cao nhất trong đời sống tâm linh, mọi sinh hoạt đều gắn liền với ngôi chùa, nơi mà họ gửi trọn cả thể xác lẫn linh hồn.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.