Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 21/10/2013 22:42 (GMT+7)

Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quỹ phát triển khoa học và công nghệ Thanh Hóa

Quỹ được thành lập theo Quyết định số 3079/QĐ-UBND ngày 27/10/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa; Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ được phê duyệt tại quyết định số 149/QĐ – UBND ngày 12/1/2007. Qua hơn 4 năm hoạt động, Quỹ đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động cũng đã bộc lộ một số tồn tại, khó khăn cần nghiên cứu và có giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ, góp phần đưa nhanh các thành tựu KH&CN vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Tình hình hoạt động của quỹ phát triển KH&CN địa phương

Theo nghiên cứu của các tác giả: Nguyên Vân Anh – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu, Võ Ngọc Anh - Sở KH&CN Bình Định, Khuất Duy Vĩnh Long - Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, Hà Huy Bắc - Sở KH&CN Vĩnh Phúc và Lê Vũ Toàn – Trường Đại học Bách khoa Hà NỘi, đến tháng 9/2011, ngoài Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia, có 16 tổ chức Quỹ phát triển KH&CN (gọi tắt là quỹ) địa phương, trong đó có 11 Quỹ đi vào hoạt động, đó là: Hải Dương, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh, Bình Định, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Bình Dương, Nghệ An, Thái Bình, Hòa Bình; 5 Quỹ đã thành lập nhưng chưa hoạt động, ở các tỉnh: Đồng Nai, Bạc Liêu, Đà Nẵng, Bình Phước, Quảng Ngãi. Hầu hết các quỹ được thành lập và đi vào hoạt động trong vòng 1-3 năm trở lại đây. Quỹ hình thành đi vào hoạt động sớm nhất cả nước là Nghệ An (2004).

Các Quỹ địa phương hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, không có mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng. Các Quỹ địa phương là các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh/ thành phố. Vốn được cấp khi thành lập ban đầu của các Quỹ không lớn, cao nhất là Quỹ TP Hồ Chí Minh (50 tỷ đồng ), còn lại từ trên 1 tỷ đến 10 tỷ đồng, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài/ dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của Quỹ. Ngoài ra, Quỹ có thể được huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách khác như: Các khoản đóng góp tự nguyện, tài trợ, hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…

Phương thức hỗ trợ tài chính của các quỹ phát triển KH&CN địa phương dựa trên nguyên tắc: Tài trợ một phần cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu tạo ra công nghệ mới thuộc những ngành nghề, lĩnh vực các tỉnh ưu tiên khuyến khích, do doanh nghiệp thực hiện và phối hợp với các tổ chức KH&CN thực hiện (mức tài trợ không quá 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài); hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế trong các doanh nghiệp (mức hỗ trợ không quá 20% tổng kinh phí thực hiện các dự án xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp); cho vay với lãi suất thấp hơn mức lãi suất của ngân hàng thương mại tại thời điểm cho vay hoặc không lấy lãi để thực hiện các dự án hoàn thiện công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN (sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới, thử nghiệm quy trình công nghệ mới…); các dụ án chuyển giao công nghệ để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh/ thành phố.

Trên thực tế, việc bổ sung quỹ từ kinh phí thu hồi các đề tài/dự án hàng năm rất thấp và khó khăn, nên để bảo toàn vốn, các quỹ không thực hiện tài trợ mà áp dụng hình thức cho vay với lãi suất thương mại (bằng 50 % lãi suất của ngân hàng thương mại) chứ không thực hiện tài trợ để bảo toàn bốn (Thanh Hóa, Thái Bình, Vĩnh Phúc). Riêng Nghệ An chỉ áp dụng hình thức tài trợ đối với các dự án đổi mới, cải tiến công nghệ cảu các doanh nghiệp, nên hàng năm nguồn vốn của quỹ được bổ sung từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học. Các địa phương khác, trong đó có Bình Định, áp dụng cả 2 phương thức tài trợ và cho vay (tài trợ đối với triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu có triển vọng thành sản phẩm có tiềm năng thương mại; cho vay để hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm sản phẩm mới, thử nghiệm quy trình công nghệ mới và chuyển giao công nghệ).

Kết quả hoạt động của các Quỹ các địa phương đều chưa có hiệu quả cao, thể hiện qua số vốn tài trợ và cho vay không nhiều. Tổng số dự án được các Quỹ địa phương tài trợ/ cho vay là 107 đề tài/dự án với tổng kinh phí là 51,26 tỷ đồng.

Theo các tác giả, nguyên nhân là do các yếu tố sau:

-       Mức kinh phí đầu tư cho các quỹ phát triền KH&CN tại các địa phương còn quá thấp so với nhu cầu và tỷ trọng đầu tư cho KH&CN. Trừ TP.HCM được đầu tư 50 tỷ đồng, các địa phương khác chỉ từ 10 tỷ trở xuống.

-       Quy trình tổ chức thực hiện cho vay còn rườm rà, phức tạp, phải trải qua nhiều khâu, thời gian thẩm định hồ sơ kéo dài từ 60 đến 90 ngày, ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện của các công trình nghiên cứu.

-       Một số Quỹ địa phương áp dụng điều kiện thế chấp quá chặt chẽ, hình thức thế chấp chủ yếu bằng tài sản cố định. Vì vậy, các dụ án tổ chức tại nông thôn (với giá trị thế chấp thấp) rất khó vay với mức vốn cao. Do vậy, sảy ra tình trạng nhu cầu vay vốn khá nhiều nhưng không vay được đủ số vốn đề xuất.

-       Tỷ lệ và định mức tài trợ/ cho vay chưa phù hợp với tình hình nghiên cứu, thực hiện đổi mới công nghệ cảu các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp hiện nay. Ví dụ, Quỹ Phát triển KH&CN TP Hồ Chí Minh quy định: “ Mức tài trợ cho một dự án không quá 30% tổng kinh phí thực hiện ( không quá 5 tỷ đồng ), thời gian vay tối đa 3 năm”, “hạn mức cho vay tối đa của dự án là 70 % tổng vốn đầu tư của dự án và không vượt quá 10 tỷ đồng”. Quỹ Phát triển KH&CN Quảng trị quy định: “ Mức tài trợ cho mỗi dự án không quá 30 % tổng kinh phí thực hiện và không quá 200 triệu đồng trong thời gian tối đa 3 năm. Định mức cho vay tối đa không qua 500 triệu”…

-       Thời hạn cho vay của nhiều quỹ địa phương còn chưa hợp lý, với thời hạn 1 năm thì không thể thực hiện được các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất.

Kết quả hoạt động bước đầu của quỹ phát triển KH&CN Thanh Hóa

Quỹ Thanh Hóa đi vào hoạt động đã tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp tiếp thu kỹ thuật tiến bộ, cải tiến nâng cao chất lương, giá trị sản phẩm. Mặc dù mới đi vào hoạt động 4 năm, bắt đầu cho vay vốn từ tháng 3/2008, đã tổ chức cho 17 dự án được vay, với tổng số vốn là 4,26 tỷ đồng. Điển hình là Quỹ đã hỗ trợ cho doanh nghiệp vay vốn để mở rộng quy mô ứng dụng kết quả dự án: Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất muối sạch trên đồng cát Thanh Hóa nhằm nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả của Công ty cổ phần Muối và Thương mại Thanh hóa và 04 hợp tác xã sản xuất muối tinh sạch phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu để mở rộng sản xuất, ứng dụng kết quả dự án. Mặc dù số vốn hỗ trợ của Quỹ không nhiều, chỉ với 760 triệu đồng/2.856 triệu đồng đầu tư cho dự án nhưng đã nâng giá trị sản phẩm muối sạch từ muối thô có giá từ 1.400 đồng/ kg lên 2.100 đồng/kg, góp phần tăng thêm thu nhập cho bà con diêm dân 1,5 tỷ đồng/năm 2009. Dự án: Đầu tư ứng dụng KHCN nâng cao hiệu quả lợn và cá của Doanh nghiệp tư nhân Thanh Thoa – Nga Sơn, chỉ với số vốn được cho vay là 100 triệu đồng cùng với vốn tự có nuôi cá lóc bông, đã cho lãi hơn 45 triệu đồng/ năm 2009; năm 2010 lãi hơn 75 triệu đồng. Dự án: Đầu tư nuôi trồng thủy sản (cá bống bớp) của Công ty cổ phần dịch vụ và nuôi trồng thủy sản Tân Sơn, Nga Tân, Nga Sơn với số vốn vay 500/1.250 triệu đồng trong tổng kinh phí đầu tư dự án để tiếp tục ứng dụng kết quả dự án cấp tỉnh; Sản xuất giống cá và nuôi thương phẩm cá bống bớp đã cho lãi hơn 300 triệu đồng/ năm 2010…

Kết quả trên có được là nhờ Quỹ: đã tổ chức triển khai cho một số dự án vay bốn từ Quỹ đúng đối tượng, đảm bảo hồ sơ thủ tục chặt chẽ, đảm bảo khả năng bảo toàn vốn cho vay theo quy định; nghiên cứu, cải tiến quy trình vay vốn thuận tiện hơn; từ xây dựng các mẫu lập hồ sơ xin vay vốn, cách thức tổ chức kiểm tra, thẩm định, cách thức phối hợp giữa Văn phòng Quỹ và Ngân hàng chính sách xã hội.

Một số khó khăn, hạn chế cần tháo gỡ

Tuy đạt được một số kết quả bước đầu như đã nêu trên, quá trình hoạt động của Quỹ đã bộc lộ những khó khăn, tồn tại cần được nghiên cứu, phân tích, tìm giải pháp tháo gỡ, đổi mới, hoàn thiện quản lý để tường bước nâng cao hiệu quả hoạt động quỹ. Thứ nhất, Quỹ mới được thành lập, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ chưa có; lĩnh vực quản lý còn mới mẻ, do vậy quá trình thực hiện đồng thời là quá trình vừa làm vừa học hỏi, vừa nghiên cứu, hoàn thiện nên còn nhiều khó khăn.

Thứ hai, Nguồn vốn cho vay chưa đáp ứng được nhu cầu: Quỹ chỉ có hơn 4,5 tỷ đồng (ngân sách SNKH cấp 3 tỷ và hơn 1,5 tỷ thu hồi từ các dự án SXTN) so với nhu cầu thực sự còn rất ít ỏi. Hiện nay, tỉnh ta có khoảng trên 7.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có khoảng trên 500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, nếu theo mục đích hoạt động của Quỹ là hỗ trợ doanh nghiệm đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu thì nhu cầu có thể đến hàng nghìn tỷ đồng/ năm. Có thể đưa ra ví dụ: mỗi năm, tỉnh ta có khoảng 50 nhiệm vụ KH&CN (đề tài nghiên cứu phát triển, dự án khoa học công nghê, dự án sản xuất thực nghiệm, cấp tỉnh triển khai với số vốn SNKH hỗ trợ 30 tỷ đồng (khoảng 30%), vốn đối ứng của cơ quan chủ trì thực hiện tối thiếu là 70-100 tỷ đồng; một số dự án cấp nhà nước khoảng 3-5 tỷ đồng/ năm. Mặt khác, vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ thường rất lớn, trong đó phần đầu tư cho máy móc thiết bị, chuyển giao bí quyết công nghệ chiếm tỉ trọng lớn trong công nghệ. Do vậy cần tăng nguồn kinh phí cho vay là tất yếu.

Thứ ba, điều kiện thế chấp: với yêu cầu phải đảm bảo tiền vay, bảo toàn vốn vay nên các đối tượng vay Quỹ phải có tài sản thế chấp (áp dụng quy định của Ngân hàng thương mại). Đây là yêu cầu rất chặt chẽ; chủ yếu thế chấp bằng tài sản đất gắn với nhà; nếu dự án tổ chức tại địa bàn nông thôn thì giá trị tài sản thế chấp rất thấp, rất khó được vay vốn nhiều. Thực tế, có những dự án có nội dung khoa học rất tốt, nhưng không thể giải quyết cho vay được đơn giản chỉ vì không có tài sản thế chấp hợp lệ. Hầu hết các dự án đều xin vay nhiều, nhưng do điều kiện thế chấp, đảm bảo tiền vay nên số vốn vay chưa đáp ứng được nhu cầu.

Thứ tư, thời hạn và mức cho vay: Thời hạn cho vay 12 tháng là quá ngắn, không thể đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất; với mức vay tối đa là 500 triệu đồng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vốn cần thiết để doanh nghiệp có thể thực hiện việc đổi mới , cải tiến kỹ thuật hoặc áp dụng kỹ thuật tiến bộ…

THực tế hoạt động cho vay thời gian qua cho thấy, hầu hết các dự án đều phải gia hạn. Trong số 17 dự án được vay vốn Quỹ, chỉ có 02 dự án trả vốn, lãi đúng hạn; có 11 dự án phải gia hạn, trong đó : có 01 dự án gia hạn 6 tháng, 1 dự án gia hạn 10 tháng, 9 dự án gia hạn 12 tháng, ngoài ra còn có 1 dự án nợ quá hạn 16 tháng, 1 dự án nợ quá hạn 10 tháng.

Về sử dụng vốn vay: do thời hạn cho vay ngắn, số vốn vay ít nên nguồn vốn vay này chủ yếu dùng thay vốn lưu động, mua nguyên vật liệu, mở rộng quy mô sản xuất là chính, không thể đầu tư cải tiến máy móc, thiết bị ( hoạt động đòi hỏi thời gian khấu hao và hoàn vốn dài). Mặt khác, chu kỳ từ các khâu chuẩn bị nguyên vật liệu, dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu kho, thị trường, thu hồi vốn bán hàng… khó có thể thực hiện trong 12 tháng.

Thứ năm, về tổ chức hướng dẫn cho vay vốn:

-       Về mẫu hồ sơ cho vay vốn: còn một số nội dung hướng dẫn chưa thật rõ ràng nên tổ chức, cá nhân xin vay vốn khó thuyết minh làm rõ những yêu cầu nội dung vay vốn, phương án tài chính, tính toán hiệu quả, phương án trả vốn và lãi tiền vay, và đặc biệt là nguồn gốc, giá trị, tính pháp lý của tài sản thế chấp…

-       Về phía người vay vốn: Thường rất lúng túng khi xây dựng, lập hồ sơ vay vốn; do đó, chỉ khi đi thực tế, hoặc hỏi trực tiếp thì cán bộ thụ lý hồ sơ mới hiểu rõ được doanh nghiệp cần gì và họ dự chi các khoản vay vốn như thế nào…

-       Về việc thực hiện quy trình tổ chức thực hiện cho vay: còn rườm rà, phức tạp, phải trải qua nhiều khâu, thời gian kiểm tra, hoàn thiện, thẩm định hồ sơ kéo dài (60-90 ngày). Trong khi đó theo quy định của ngân hàng: thời hạn giải ngân 15 ngày kể từ khi có văn bản thẩm định.

Kiến nghị, đề xuất

Để tạo điều kiện hoạt động của Quỹ phù hợp với thực tiễn, trên cơ sở khắc phục các nhược điểm, khó khăn trong quá trình thực hiện Điều lệ Quỹ như đã nêu ở trên, cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Quỹ cho phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn đòi hỏi theo hướng: Đơn giản hóa thủ tục cho vay, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp khi vay vốn nhưng vẫn đảm bảo được vốn Quỹ có hiệu quả thiết thực, đồng thời với việc tăng nguồn vốn Quỹ, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, cùng với việc tăng thời hạn cho vay và mức vốn vay.

Tăng nguồn vốn Quỹ

Trước hết, cấp bổ sung 1,5 tỷ đồng cho đủ 6 tỷ đồng vốn tối thiểu theo Điều lệ Quỹ (Quyết định số 149/QĐ-UBND); bổ sung hàng năm để tăng dần nguồn vốn Quỹ bằng 10-15 %tổng kinh phí SNKH được cấp hàng năm (khoảng 3-5 tỷ/năm)

Đa dạng hình thức hỗ trợ

Ngoài hình thức cho vay với lãi suất thấp ( nhưng phải có tài sản thế chấp) bằng 50% lãi suất ngân hàng thương mại như hiện nay, có thể áp dụng thêm một số hình thức hỗ trợ khác theo Điều lệ mẫu Tổ chức hoạt động của Quỹ của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, tỉnh, thành phố thuộc Trung ương (ban hành kèm theo quyết định số 117/2005/QĐ –TTg ngày 27/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ), hoặc Quỹ của các tỉnh như Quỹ Thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ Bình Định, Quỹ Nghệ An… Có thể có mở rộng các hình thức hỗ trợ như sau:

-       cho vay lãi suất thấp mà không cần tài sản thế chấp như Quỹ Thành phố Hồ Chí Minh

-       Hỗ trợ cho vay không lãi suất

-       Bảo lãnh cho doanh nghiệp để ngân hàng thương mại cho vay và hỗ trợ 100% lãi suất theo mức cho vay của ngân hàng thương mại

-       Hỗ trợ một phần (không quá 30%) tổng kinh phí thực hiện đề tài, dự án và hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế trong các doanh nghiệp (mức hỗ trợ không quá 20 % tổng kinh phí thực hiện các dự án xay dựng hệ thống quản lý chất lượng của doanh nghiệp).

Nâng mức vốn cho vay hỗ trợ và tăng thời gian cho vay:

Để tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng vốn vay hỗ trợ từ Quỹ có hiệu quả, đề nghị UBND tỉnh xem xét, sửa đổi Điều lệ Quỹ theo hướng:

- Nâng mức vốn tối da cho vay từ 500 triệu đồng/dự án (khoản 2- điều 4 – Điều lệ Quỹ) lên 1,0 tỷ đồng/ dự án

- Tăng thời gian cho vay tối đa lên 24 tháng

Cải tiến, đổi mới hoạt động quản lý Quỹ

- Về mẫu hồ sơ vay vốn: tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hồ sơ dự án xin vay vốn và hướng dẫn chi tiết, dễ hiểu cho các đối tượng được vay vốn.

- Về quy trình tổ chức thự hiện cho vay: tiếp tục nghiên cứu cải tiến đổi mới quy trình thực hiện cho vay phù hợp hơn với thực tế, theo hướng rút ngắn thời gian xem xét, thẩm định, giải ngân nhưng vẫn đảm bảo thực hiện đúng Điều lệ Quỹ và Hướng dẫn thực hiện cho vay vốn của Quỹ và ngân hàng chính sách xã hội tỉnh.

Để Quỹ thực sự là một trong những kênh dẫn vốn cho doanh nghiệp đầu tư ứng dụng, tiếp thu chuyển giao công nghệ, nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện, đổi mới công nghệ cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và tham gia của toàn xã hội. Cùng với các Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ đổi mới công nghệ Quốc Gia… việc đổi mới Quỹ từ việc mở rộng đối tượng cho vay và thời hạn cho vay trên cơ sở tăng nguồn vốn Quỹ cùng với việc cải tiến, hoàn thiện quy trình quản lý cho vay chắc chắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn Quỹ và ứng dụng có hiệu quả thành tựu KH&CN, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.