Ðổi mới hoạt động khoa học công nghệ theo "hệ thống mở"
Ðến nay, nhìn chung hoạt động KHCN ở nước ta đang theo một mô hình khép kín. Các hoạt động nghiên cứu khoa học chỉ giới hạn trong từng cá nhân, từng tổ chức KHCN hay từng doanh nghiệp (DN). Các mối quan hệ qua lại về kinh tế, thông tin... giữa các thực thể này hầu như không có hoặc chỉ trong phạm vi hẹp. Sự khép kín đó không những làm giảm sức mạnh tổng thể, mà còn hạn chế hiệu quả đầu tư cho KHCN vì nó không tận dụng triệt để mọi nguồn lực khoa học cũng như khai thác cao nhất các kết quả nghiên cứu đã đạt được, đồng thời không thúc đẩy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống. Ðể khắc phục những hạn chế từ mô hình "khép kín" này, PGS, TS Trần Văn Nhân (Viện trưởng Khoa học, Công nghệ và Môi trường thuộc Trường đại học Khoa học tự nhiên, Ðại học Quốc gia Hà Nội) đề xuất hướng đổi mới các hoạt động KHCN sang mô hình "hệ thống mở".
Với mô hình hoạt động theo "hệ thống mở", các tổ chức KHCN, các nhà khoa học và các DN trở thành các mắt xích trong một mạng lưới KHCN liên kết với nhau thông qua các mối liên hệ chức năng, thông tin, kinh tế... Các yếu tố đầu vào và đầu ra của mỗi "tế bào" và của cả hệ thống chính là thông tin, kinh nghiệm, nguồn tài chính, các sản phẩm KHCN...
Ưu điểm của mô hình hoạt động theo hệ thống mở là thông qua kênh thông tin hợp tác trao đổi, các cá nhân, tổ chức và các DN hoàn toàn có thể tiếp cận được các kết quả nghiên cứu và các kinh nghiệm của nhau. Ðiều đó không chỉ giảm các chi phí nghiên cứu không cần thiết của mỗi "mắt xích" mà còn hình thành mối liên hệ hỗ trợ lẫn nhau, đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học vào cuộc sống. Nếu xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, tận dụng các kết quả nghiên cứu của nhau sẽ giúp tiết kiệm chi phí lao động xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu khoa học cũng như thúc đẩy phát triển KHCN của đất nước. Thêm vào đó, việc tận dụng cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân lực của nhau sẽ làm giảm chi phí đầu tư và nâng cao năng lực nghiên cứu KHCN. Trong hoàn cảnh chưa có đầy đủ cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học như hiện nay, việc tận dụng các nguồn lực hiện có không những nâng cao hiệu suất sử dụng mà còn làm giảm các chi phí đầu tư ban đầu và chi phí đào tạo, giúp các DN KHCN trong nước nâng cao sức cạnh tranh. Sự hợp tác giữa các tổ chức KHCN và các DN sẽ tăng sự chia sẻ thông tin và chia sẻ chi phí đầu tư làm giảm nguy cơ rủi ro trong hoạt động và mở rộng thị trường KHCN. Các DN có thể khai thác thị trường sẵn có của đối tác thay vì tự mình mở ra các kênh phân phối mới cũng làm giảm đáng kể chi phí và rủi ro.
Một ưu điểm khác là nó phát huy được sức mạnh tổng thể của cả hệ thống. Khi có sự phối hợp nhịp nhàng và phân chia nhiệm vụ hợp lý, hệ thống này có thể giải quyết một mục tiêu lớn phức tạp và dài hạn với hiệu quả và độ tin cậy cao. Ngoài ra hệ thống mở còn có tính ưu việt là dễ dàng nâng cấp công nghệ sản xuất bằng đầu tư nước ngoài, gắn kết KHCN với sản xuất...
Hiện tại, ở Việt Nam, có 1.102 tổ chức hoạt động KHCN, trong đó 507 thuộc sở hữu Nhà nước; khoảng 50 nghìn người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước vẫn là chủ yếu, chiếm tới 60% tổng đầu tư của xã hội cho KHCN. Ðể thật sự xã hội hóa hoạt động KHCN và phát huy tiềm năng sẵn có cần sớm giải quyết một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, cần chuyển các tổ chức KHCN công lập đang trong cơ chế bao cấp về chi phí sang hoạt động và điều hành tương tự như một DN (tự hạch toán chi phí) bởi chỉ khi đó, hiệu quả hoạt động mới được đặt lên hàng đầu, nhân lực và vật lực sẽ được phát huy cao nhất, trách nhiệm với sản phẩm KHCN cao hơn, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư cho KHCN, sản phẩm KHCN mới thật sự trở thành hàng hóa.
Thứ hai, cần có một cơ chế điều phối các hoạt động KHCN của các tổ chức trong mạng lưới, nhất là với các mục tiêu lớn hình thành từ các mục tiêu thành phần được đầu tư bằng nguồn ngân sách Nhà nước. Trong trường hợp này, các cơ quan quản lý nhà nước về KHCN (Bộ KHCN, các sở KHCN), cần đứng ở vị trí đầu mối chủ trì, điều phối.
Thứ ba, cần nhanh chóng hình thành thị trường KHCN. Khi đã coi KHCN là hàng hóa và các tổ chức KHCN hoạt động như DN thì tất yếu phải có thị trường tiêu thụ hàng hóa đặc biệt này. Thông qua thị trường, các DN và các tổ chức KHCN có cơ hội tiêu thụ sản phẩm của mình cũng như tìm các đối tác nghiên cứu, kinh doanh. Thực tế cho thấy, qua gần 30 kỳ Techmart được tổ chức trong mấy năm vừa qua đã thu hút sự tham gia của hàng nghìn công nghệ, thiết bị, giải pháp phần mềm, dịch vụ công nghệ với tổng giá trị đã ký mua bán lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Riêng kỳ Techmart 2006 tại Hà Nội, giá trị hợp đồng được ký đạt gần 100 tỷ đồng. Chính những hiệu quả nêu trên tác động kích thích ngược trở lại các hoạt động KHCN, khuyến khích các tổ chức, các DN tăng cường đầu tư nghiên cứu KHCN với hiệu quả cao nhất.
Thứ tư, cần có hệ thống hành lang pháp lý thống nhất tạo sự bình đẳng và bảo đảm quyền lợi cho mỗi người tham gia.
Theo TS Lê Ðình Tiến, Thứ trưởng Bộ KHCN, Quốc hội và Chính phủ có lộ trình cụ thể ban hành các bộ luật, pháp lệnh, nghị định liên quan KHCN làm cơ sở, nền tảng quan trọng hình thành một thị trường KHCN cùng các mối quan hệ kinh tế như: Luật Sở hữu trí tuệ (đã được thông qua); Luật Chuyển giao công nghệ (sẽ thông qua vào cuối năm nay); Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Pháp lệnh Công nghệ cao đang được Bộ KHCN khẩn trương soạn thảo.
Cùng với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh đang ngày càng quyết liệt hơn, KHCN đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, là yếu tố quyết định sức mạnh các nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Nền kinh tế dựa vào các thành tựu nghiên cứu khoa học trở thành nền kinh tế tri thức và đầu tư cho KHCN là đầu tư cho tương lai. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, đòi hỏi cần có sự đổi mới về chất các hoạt động KHCN theo hướng hội nhập khu vực và thế giới. Vì vậy, đổi mới hoạt động KHCN tiếp cận theo "hệ thống mở" là phù hợp xu thế phát triển hiện nay.
Nguồn: nhandan.com.vn 13/11/2006








