Đối mặt với biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Quy phạm pháp luật bảo vệ rừng ngập mặn chưa đủ mạnh
Kịch bản cho Việt Nam
Tình trạng biến đổi khí hậu đặt ra nhiều vấn đề đối với tất cả các quốc gia. Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng các hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm. Tần suất và cường độ các hiện tượng bão, mưa lớn, nhiệt độ cao, hạn hán tăng hơn nhiều trong thập niên vừa qua. Gần 100 triệu người ở Châu Á sẽ phải đối mặt với nguy cơ lũ lụt do nước biển dâng cao.
Đối với Việt Nam , kết quả nghiên cứu của Tổng cục Khí tượng thuỷ văn (năm 1995) cho thấy với kịch bản nước biển dâng cao 1m thì nhiều vùng trũng ở Đồng bằng Bắc Bộ sẽ bị ngập. Tỉnh Thái Bình là tỉnh có diện tích bị ngập lớn nhất - tới 51,9%. Tiếp theo là Hà Nam 21,6% và Thanh Hoá 7,7%.
Nếu tính chung cả Đồng bằng Bắc Bộ thì khoảng 3%. Cư dân ở những vùng đất thấp sẽ gặp nguy hiểm, ở Thái Bình sẽ có một lượng lớn người dân phải sơ tán. Đối với Nam Bộ, khi nước biển dâng cao 1m, nước biển sẽ vào sâu trong đất liền 180km làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của 23% dân số, 14 triệu dân ở ĐBSCL sẽ mất chỗ ở.
Phát triển nóng vội
Bên lề cuộc hội thảo, Báo Lao động đã có các cuộc phỏng vấn ngắn với một số nhà khoa học về những tác động của biến đổi khí hậu với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
TS Mai Trọng Thông - Viện Địa lý, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết:
Trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội mang tính quốc gia, theo tôi nghĩ vấn đề này có được quan tâm, nhưng chưa thực sự sử dụng kết quả nghiên cứu đã đạt được. Ví dụ như là biến đổi khí hậu tác động lớn nhất đến vùng đất ven biển. Vậy mà hiện nay chúng ta vẫn coi những dải đất ven biển là trung tâm của phát triển, điều đấy chứng tỏ chúng ta chưa tính toán được hết những tác động của biến đổi khí hậu.
Tôi chưa nói đến mức độ nước biển dâng, làm ngập, đó là thảm hoạ rồi. Nhưng biến đổi khí hậu hiện nay nó còn biểu hiện trong những cơ chế quy mô lớn như bão, sóng thần...
Tôi cho rằng quy hoạch phát triển các vùng ven biển cần xem xét cụ thể hơn cho từng tỉnh, từng địa phương để có thể đưa ra những giải pháp hạn chế tác hại.
GS.TSKH Phan Nguyên Hồng - Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn, Đại học Sư phạm Hà Nội:
Nếu biết phát triển khôn khéo thì không có sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ven biển, nhưng người ta quá nóng vội. Tôi nêu một trường hợp thế này là rõ nhất, một chủ tịch hay là một cán bộ vừa được bầu lên thì muốn cho kinh tế địa phương phát triển mọi giá, xuất khẩu càng nhiều tôm, cua càng tốt, càng nhiều quặng càng tốt... thế thì khi phá rừng ngập mặn đi thì tác hại lâu dài của nó rất lớn.
Pháp luật của Nhà nước rất quan tâm về vấn đề này, nhưng dân hiện nay chưa hiểu nhiều về vấn đề này. Thực tế tác dụng đến thay đổi nhận thức của người dân là do thiên nhiên.
Qua mấy cơn bão lớn những năm qua, người ta thấy tác dụng thực sự của những dải rừng ngập mặn. Không có những cơn bão đó thì chúng tôi có nói gì cũng không được, mà pháp luật có quy định đến bao nhiêu nữa thì vì quyền lợi trước mắt người ta vẫn làm. Đó là thực tế cho thấy việc thực thi những quy phạm pháp luật bảo vệ rừng ngập mặn hiện nay chưa đủ mạnh.








