Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/06/2007 23:33 (GMT+7)

Điện nguyên tử: Khả năng phát triển ở Việt Nam

Cho đến nay, 3 thế hệ lò phản ứng hạt nhân đã được đưa vào sử dụng. Thế hệ lò thứ nhất (GCR, Magnox, Fermi...) những năm 50 – 60 thế kỷ trước chủ yếu là các lò đơn chiếc, mang tính thử nghiệm, một số hiện nay vẫn đang vận hành. Thế hệ lò thứ 2 những năm 70 – 80 (PWR, BWR, CANDU, WER...) hiện nay đang được vận hành phổ biến trên thế giới. Thế hệ thứ 3 là thế hệ lò phản ứng hạt nhân tiên tiến, được hoàn thiện từ thế hệ thứ 2 (APWR, ABWR, WER, System 80, EPR, AP-600, SBWR...) với nhiều ưu điểm, an toàn cao hơn, áp dụng nguyên lý an toàn thụ động, kinh tế hơn, đã đưa vào sử dụng ở một số nơi và tiếp tục được xây dựng ở nhiều nước. Một số thiết kế mới của thế hệ lò này vẫn tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu cao nhất về an toàn, môi trường và cạnh tranh về mặt kinh tế, như AP-1000, ESBWR, SWR, VPBER-600. Thế hệ lò thứ 3 +(PBMR, GT-MHR) là các lò có công suất nhỏ, kiểu modul, độ an toàn cao, sử dụng nguyên lý an toàn thụ động, giá thành thấp và có khả năng thay đổi tải nhanh chóng, có thể tương thích với thay đổi của lưới điện yếu; và là các lò tiên tiến được tiếp tục cải tiến, sửa đổi thiết kế. Thế hệ lò thứ 4 đang được hình thành, xây dựng nguyên tắc và yêu cầu thiết kế. Có 4 mục tiêu đề ra cho thế hệ lò thứ 4 là an toàn phải được nâng cao hơn, tính kinh tế cao, chất thải phòng xạ ít hơn và loại bỏ khả năng phổ biến vũ khí hạt nhân. Có 6 hướng phát triển lò thế hệ thứ 4 hiện nay đang được tập trung nghiên cứu là: lò nơtron nhanh làm mát bằng khì; lò nơtron nhanh làm mát bằng chì lỏng; lò làm mát bằng muối nóng chảy; lò nơtron nhanh làm mát bằng natri lỏng, lò nơtron nhiệt hoặc nơtron nhanh được làm mát bằng nước siêu tới hạn là lò làm mát bằng khí nhiệt độ cao. Trong số 6 xu hướng này, 4 xu hướng sẽ là lò nhiệt độ cao, ngoài mục đích sản xuất điện còn có thể sử dụng vào việc sản xuất hydrogen cho tế bào nhiên liệu.

Ba vấn đề liên quan đến công nghệ điện nguyên tử tập trung sự chú ý của dư luận là an toàn, vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân và xử lý chất thải phóng xạ. Có thể nói an toàn là mục tiêu số một, đồng thời cũng là đặc thù khác biệt của điện nguyên tử. Chính vì thế an toàn luôn luôn là đối tượng và mục tiêu được tập trung nghiên cứu của các nhà khoa học, công nghệ. An toàn của điện nguyên tử được đảm bảo từ các yếu tố sau đây:

- Hệ thống pháp quy chặt chẽ đảm bảo an toàn cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng năng lượng hạt nhân;

- Thiết kế lò phản ứng hạt nhân được dựa trên các nguyên lý đảm bảo tính an toàn nội tại cao nhất, nguyên lý bảo vệ theo chiều sâu với nhiều lớp rào chắn giam giữ chất phóng xạ;

- Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, kỹ thuật hiện đại trong thiết kế chế tạo thiết bị cho điện nguyên tử. Thiết bị được chế tạo theo các tiểu chuẩn nghiêm ngặt, chất lượng tốt.

- Đội ngũ vận hành bảo dưỡng nhà máy điện nguyên tử được đào tạo kỹ lưỡng, có trình độ chuyên môn tốt, hiểu biết và nhiều kinh nghiệm, ý thức kỷ luật tốt và có văn hóa an toàn cao.

Có thể nói từ thế hệ lò thứ 3, nguyên tắc an toàn nội tại của các hệ thống an toàn được đưa vào áp dụng và ngày càng triệt để. Nguyên tắc an toàn nội tại dựa trên các quy luật vật lý tự nhiên, cùng với quản lý tốt, chất lượng thiết bị và vận hành đảm bảo sẽ triệt tiêu khả năng xảy ra các sự cố lớn đối với nhà máy điện nguyên tử, gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân hiện nay được dư luận rất quan tâm. Do đó việc kiểm soát vật liệu hạt nhân, không phổ biến các công nghệ làm giàu nhiên liệu, tách chiết plutoni... đang ngày càng chặt chẽ hơn. Trong tương lai, công nghệ điện nguyên tử sẽ được phát triển theo hướng tránh khả năng phổ biến vũ khí hạt nhân qua việc chuyển giao công nghệ điện nguyên tử (thế hệ lò thứ 4).

Chất thải phóng xạ là vấn đề lớn của điện nguyên tử. Trung bình 1 tổ máy điện nguyên tử 1000 MW hàng năm thải ra khoảng 30 –50m 3chất thải phóng xạ hoạt độ thấp và trung bình đã xử lý và 30 tấn nhiên liệu đã cháy. Chất thải phóng xạ hoạt độ thấp và trung bình ít nguy hiểm, dễ quản lý và sau một hai trăm năm có thể coi như rác thải bình thường. Vấn đề chính là nhiên liệu đã cháy chứa nhiều sản phẩm phân hạch và nuclide siêu uran có hoạt độ phóng xạ cao và chu kỳ bán hủy dài. Các chất phóng xạ này chiếm khoảng 3% khối lượng nhiên liệu đã cháy. Trong trường hợp không tái chế nhiên liệu hạt nhân đã cháy, chúng ta phải cất giữ toàn bộ nhiên liệu đã cháy như là chất thải phóng xạ hoạt độ cao chu kỳ bán hủy dài. Trong trường hợp chuyển đi tái chế tại các nước khác, chúng ta vẫn phải nhận lại 3% chất phóng xạ hoạt độ cao nêu trên dưới dạng được thủy tinh hóa trong bình thép không gỉ (canister). Cất giữ các thanh nhiên liệu đã cháy hoặc các canister này như thế nào, đó là vấn đề lớn và là vấn đề chung của các nước trên thế giới. Có thể trong tương lai sẽ có những bãi cất giữ quốc tế cho các chất thải phóng xạ này (thời gian cất giữ quản lý có thể đến hàng chục nghìn năm).

Khả năng phát triển điện nguyên tử tại Việt Nam

Từ giữa những năm 90, Bộ Công nghiệp đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành một số đề tài nghiên cứu khả năng đưa điện nguyên tử vào Việt Nam . Các nghiên cứu về địa điểm, công nghệ, an toàn, chất thải đã được tiến hành trong 5 – 7 năm lại đây. Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi về dự án nhà máy điện nguyên tử tại Việt nam đã được Viện Năng lượng hoàn thành và dự kiến trình Chính phủ trong quý 2/2004. Việt Nam có nên phát triển điện nguyên tử hay không, vào thời điểm nào? Đó là câu hỏi lớn mà Chính phủ Việt Nam đang xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi bắt đầu chương trình năng lượng hạt nhân, một chương trình sẽ chuyển đổi Việt Nam từ một nước không hạt nhân thành một nước hạt nhân.

Trước hết chúng ta hãy xem nhu cầu tiêu thụ năng lượng điện của Việt Nam . Theo kết quả tính toán dự báo về cung cầu điện năng, nhu cầu điện ngày càng tăng và dự báo đến năm 2020 đạt 177 đến 230 tỷ kWh, trong đó phương án cơ sở là 201 tỷ. Bảng 1 và 2 cho thấy mức độ tăng trưởng và nhu cầu điện năng qua các giai đoạn.

Nguồn năng lượng sơ cấp của Việt Nam khá đa dạng, bao gồm: than, dầu và khí, thủy điện, urani, gió, mặt trời, địa nhiệt và sinh khối... Tuy nhiên tiềm năng của các nguồn năng lượng lại không lớn đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng nhanh trong thời gian dài. Tổng trữ lượng than đã tìm kiếm thăm dò còn lại đến 2002 theo tổng sơ đồ phát triển ngành than giai đoạn 2001 – 2010 là 3,808 tỷ tấn. Theo các dự báo mới đây dưới đồng bằng Bắc Bộ có mỏ than nâu trữ lượng lớn, nhưng nằm sâu, khả năng khai thác là rất thấp và gây ảnh hưởng về môi trường. Về dầu khí, tính đến 2003 tổng trữ lượng dầu khí có thể thu hồi vào khoảng 1,25 tỷ m 3dầu quy đổi, tập trung hầu hết ở thềm lục địa. Tiềm năng kỹ thuật thủy điện của nước ta khoảng 123 tỷ kWh, tương đương công suất lắp đặt khoảng 31.000 MW. Nếu xem xét các yếu tố kinh tế, xã hội và tác động môi trường thì tiềm năng kinh tế - kỹ thuật giảm xuống còn 75 – 80 tỷ kWh, tương đương 20.000 MW. Đến thời điểm hiện nay ta đã khai thác 4.187 MW. Năng lượng địa nhiệt được đánh giá tối đa ở mức 200 – 400 MW. Các nguồn năng lượng tái tạo khác như năng lượng gió, mặt trời và sinh khối có thể khai thác được ở mức 200 – 400 MW. Các đánh giá trên đây đã theo hướng lạc quan. Tài nguyên năng lượng khai thác được trong giai đoạn từ nay đến 2030 có thể tổng kết trong bảng 3.

Bảng 1: Dự báo nhu cầu điện năng đến năm 2050, tỷ kWh

Bảng 1: Dự báo nhu cầu điện năng đến năm 2050, tỷ kWh

Như vậy, vào khoảng trước sau năm 2015 nếu khả năng khai thác các nguồn năng lượng sơ cấp không có đột biến lớn (ví dụ phát hiện thêm than, dầu và khí...) thì cung cấp sẽ
Bảng 2: Diễn biến giảm tốc độ tăng trưởng điện qua các giai đoạn

Bảng 2: Diễn biến giảm tốc độ tăng trưởng điện qua các giai đoạn

không thể đáp ứng nhu cầu. Sự thiếu hụt sẽ ngày càng lớn trong khi nhu cầu năng lượng điện của Việt Nam chưa đạt mức bão hòa. Vào năm 2030 theo tính toán thì sự thiếu hụt
Bảng 3: Cân đối nhu cầu tổng thể năng lượng và khả năng khai thác năng lượng sơ cấp (phương án nhu cầu cơ sở, khả năng khai thác lạc quan)

Bảng 3: Cân đối nhu cầu tổng thể năng lượng và khả năng khai thác năng lượng sơ cấp (phương án nhu cầu cơ sở, khả năng khai thác lạc quan)

về cung cấp năng lượng có thể gần 50%.

Một trong các giải pháp để đáp ứng nhu cầu năng lượng là nhập khẩu. Việt Nam có thể nhập khẩu điện, hoặc nhập khẩu nhiên liệu như than, khí và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) cho các nhà máy nhiệt điện. Theo đánh giá thì khả năng nhập khẩu điện của Việt Nam từ các nước như Trung Quốc, Lào, Campuchia là không lớn. Nhập khẩu điện sẽ tăng nhập siêu, cần nhiều ngoại tệ. Thêm vào đó việc nhập khẩu điện nhiều sẽ tăng sự phụ thuộc của nước ta vào các nguồn cung cấp nước ngoài. Nhập khẩu nhiên liệu, đặc biệt là than với khối lượng lớn cho các nhà máy nhiệt điện sẽ tác động xấu đến môi trường và sẽ khó khăn trong quy hoạch, xây dựng các nhà máy nhiệt điện, các cảng biển cho việc nhập khẩu than. Khả năng nhập khẩu khí qua các đường ống giữa các nước ASEAN là thấp vì sau 10-20 năm, nguồn khí dự trữ của các nước này cũng sẽ bị hạn chế, chính các nước này cũng sẽ gặp phải những khó khăn về cung cấp năng lượng như Việt Nam. Khí tự nhiên hóa lỏng bị hạn chế do giá thành cao và nguồn cung cấp không chắc chắn.

Giải pháp tổng hòa là kết hợp phát triển tối đa tài nguyên trong nước, nhập khẩu năng lượng một phần với phát triển điện nguyên tử. Xu thế hiện nay cho thấy điện nguyên tử là giải pháp tốt cho cung cấp điện năng, đảm bảo cung cấp điện năng cho đất nước. Điện nguyên tử còn đảm bảo tính an ninh cung cấp năng lượng lâu dài trong bối cảnh bất ổn và phức tạp của thị trường dầu khí thế giới. Mặt khác, giá thành của điện nguyên tử có xu hướng ngày càng giảm, có thể cạnh tranh được với các loại hình sản xuất điện khác. Chi phí cho nhiên liệu thấp làm cho giá thành điện năng sản xuất ổn định. Theo đánh giá thì Việt Nam có mỏ urani và trữ lượng khá lớn, có thể khai thác và sử dụng. Đây cũng là thuận loại cho Việt Nam nếu phát triển điện nguyên tử. Vấn đề là Việt Namcần phải phát triển điện nguyên tử vào thời điểm nào và khi nào Việt Nam có đủ khả năng, sẵn sàng xây dựng và vận hành nhà máy điện nguyên tử. Phát triển điện nguyên tử, mà trước hết là thực hiện chương trình hạt nhân sẽ thúc đẩy khoa học công nghệ, nâng cao tiềm lực công nghiệp trong nước, đáp ứng nhu cầu điện năng, đảm bảo an ninh năng lượng cũng như gìn giữ môi trường.

Các nghiên cứu đánh giá cho thấy Việt Nam cần đưa vào vận hành nhà máy điện nguyên tử đầu tiên vào khoảng 2017 – 2019. Công suất lắp đặt sẽ đạt 2000 MW (khoảng 5% tổng công suất yêu cầu) vào năm 2020 và đạt 8000 MW (khoảng 13% tổng công suất yêu cầu) vào năm 2030. Hai địa điểm được lựa chọn và bước đầu đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về an toàn hạt nhân để xây dựng nhà máy điện nguyên tử là Phước Dinh và Vĩnh Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận.

Khó khăn và thuận lợi trong phát triển điện nguyên tử ở Việt Nam

Tuy nhiên, để phát triển điện nguyên tử hiện nay, chúng ta còn phải đối phó với một loại các khó khăn sau đây:

- Trình độ khoa học, công nghệ của Việt Nam còn thấp, đội ngũ cán bộ thiếu nhiều;

- Khả năng công nghiệp trong nước còn hạn chế, hạ tầng cơ sở còn nghèo nàn, đặc biệt là hệ thống pháp quy hạt nhân;

- Khó khăn trong thu xếp tài chính;

- Tính kỷ luật, ý thức về văn hóa an toàn của Việt Nam chưa cao;

- Điện nguyên tử là vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, và có nhiều quan điểm trái ngược nhau về điện nguyên tử;

- Quản lý chất thải phóng xạ.

Mặc dù vậy nhưng hiện nay cũng có nhiều thuận lợi cho phát triển điện nguyên tử ở Việt Nam , đó là:

- Công nghệ điện nguyên tử đã được kiểm chứng và phổ biến trên thế giới, có nhiều khả năng để Việt Nam lựa chọn, nhận chuyển giao công nghệ và làm chủ công nghệ;

- Quan hệ quốc tế thuận lợi, Việt Nam có thể tận dụng những quan hệ để nghiên cứu, tìm hiểu về điện nguyên tử, để đào tạo cán bộ, chuyên gia và tận dụng được các hỗ trợ khác về tài chính, kỹ thuật cũng như kinh nghiệm để thực hiện chương trình hạt nhân của mình;

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như đội ngũ cán bộ, chuyên gia phát triển mạnh hiện nay có khả năng hỗ trợ tốt cho chương trình điện nguyên tử của Việt Nam .

Kết luận

Tổng thể có thể thấy phát triển điện nguyên tử là xu thế tất yếu của điện lực thế giới. Việt nam với tốc độ tăng trưởng nhu cầu năng lượng nhanh và lâu dài cùng với những hạn chế về tài nguyên năng lượng trong nước, thì việc phát triển điện nguyên tử là một sự lựa chọn có tính khả thi cao, cần được xem xét nghiêm túc và kỹ lưỡng.

Hiện nay chúng ta đang đứng ở vạch xuất phát của chương trình điện nguyên tử. Một khi đã bắt đầu, sẽ xuất hiện rất nhiều vấn đề phải giải quyết và đòi hỏi thời gian lâu dài. Nếu không có chiến lược và quyết định sớm thì việc đưa điện nguyên tử vào theo đúng dự định sẽ rất khó thực hiện.

Có thể tin tưởng rằng việc đưa điện nguyên tử vào sẽ góp phần phát triển đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.