Đến năm 2020 sẽ đưa nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước ta vào vận hành
Trước đó, ngày 30/12/2005, Bộ Công nghiệp đã tổ chức tọa đàm về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam bao gồm đại diện các bộ ngành và nhiều nhà khoa học liên quan. Trong buổi tọa đàm này đã có các báo cáo chuyên đề sau đây:
- Đại diện Viện Công nghệ Xạ hiếmbáo cáo về tình hình và triển vọng nghiên cứu nhiên liệu hạt nhân trên thế giới và Việt Nam . Theo đó, đã xác định Việt Nam có nguồn tài nguyên Urani đa dạng, nhưng hàm lượng Urani trong các loại quặng là nghèo. Viện đề nghị Nhà nước cần đầu tư cơ sở vật chất, trang bị các thiết bị chuyên dùng, đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ trẻ và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhiên liệu hạt nhân.
- Viện Năng lượng Nguyêntử báo cáo về kế hoạch đào tạo chuyên gia cho chương trình điện hạt nhân giai đoạn 2005 - 2018. Công nghệ điện hạt nhân là công nghệ cao, phức tạp, liên quan đến rất nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác nhau. Để có thể nắm chắc được công nghệ chuyển giao, ta cần hết sức quan tâm đến khâu đào tạo nhân lực. Các nước muốn phát triển điện hạt nhân đều phải có chương trình đào tạo từ rất sớm, khoảng 12 - 13 năm trước khi có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên dù là dưới hình thức “Chìa khóa trao tay” (nghĩa là muốn thực hiện được quyết định của Chính phủ về việc đưa nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước ta vào vận hành năm 2020 thì sang năm 2007 chúng ta phải bắt tay vào việc đào tạo nhân lực cho nhà máy).
Theo Viện năng lượng Nguyên tử thì qua kinh nghiệm của các nước đi trước, chúng ta cần thành lập Trung tâm đào tạo quốc gia về khoa học và công nghệ chuyên ngành hạt nhân. Quá trình xây dựng có thể là sự hợp nhất các Trung tâm đào tạo hiện có ở các Bộ ngành khác nhau để tiến tới thành lập Trung tâm đào tạo quốc gia cho ngành hạt nhân với sự phối hợp của cả 3 bộ: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công nghiệp.
- Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam với tư cách là tổ chức phản biện Báo cáo Tiền khả thị Dự án, PGS. TS. Trương Duy Nghĩa – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đã nêu tóm tắt 6 nội dung tập trung phản biện là:
1. Về sự cần thiết và thời điểm xuất hiện NMĐHN ở Việt Nam - Quy mô công suất nhà máy;
2. Địa điểm xây dựng nhà máy;
3. Các vấn đề cơ bản về các giải pháp công nghệ và kỹ thuật;
4. Đánh giá tác động môi trường và dư luận xã hội;
5. Tổng mức đầu tư và hiệu quả kinh tế đầu tư;
6. Những vấn đề quan trọng khác là đặc thù riêng của Dự án.
Và nêu tiếp:
Ở giai đoạn Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi thì vấn đề thứ nhất trong 6 vấn đề nêu trên là nội dung quan trọng nhất. Thực chất của nó là có cần thiết, có nên và có thể xây dựng, phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam không? Đây là một vấn đề lớn, có tính chiến lược trong phát triển điện lực, phát triển năng lượng ở Việt Nam . Do đó, thời điểm cụ thể xuất hiện tổ máy điện hạt nhân đầu tiên phải đáp ứng cả hai điều kiện cần và đủ; điều kiện cần là phù hợp với yêu cầu tăng công suất của hệ thống điện theo thực tế quy hoạch, điều kiện đủ là phải hoàn thành được mọi công tác chuẩn bị, công tác đầu tư xây dựng, đảm bảo đưa nguồn điện hạt nhân vào làm việc an toàn, tin cậy, có hiệu quả, trong đó yêu cầu đảm bảo an toàn được đặt lên tầm quan trọng hàng đầu. Trong hai điều kiện xuất hiện nguồn điện hạt nhân đầu tiên nêu trên đây, điều kiện đủ là quan trọng có tính quyết định; điều kiện cần được đặt ra như là mục tiêu để thúc đẩy mọi hoạt động cần thiết.
Vì vậy Tư vấn phản biện đã kiến nghị trong phần nội dung (ở Chương 1 của Báo cáo tiền khả thi) cần được trình bày để sao cho toát lên được một ý quan trọng là Việt Nam cần thiết và có thể phát triển điện hạt nhân, ngay cả khi vẫn có thể cân đối được các nguồn năng lượng sơ cấp trên cơ sở nhận thực rằng: công nghệ Nhà máy điện hạt nhân đã là một công nghệ sản xuất hiện ổn định, đã có tính phổ biến và đã được thương mại hóa, đã có trên nửa thế kỷ phát triển, và hiện đang đóng góp một tỷ lệ quan trọng trong tổng sản lượng điện năng của thế giới cũng như ở nhiều nước phát triển. Vấn đề là song song với sự cần thiết phải phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam , cần chuẩn bị thật tốt và đầy đủ các điều kiện khác để bảo đảm cho sự phát triển này. Những điều kiện khác mà chúng tôi gọi là các điều kiện đủ là rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến câu trả lời là Việt Nam nên có hay chưa nên có điện hạt nhân. Và nếu những điều kiện đủ này chưa được chuẩn bị tốt thì ngay cả khi thiếu nguồn năng lượng sơ cấp cũng vẫn chưa nên có Nhà máy điện hạt nhân. Còn khi đã chuẩn bị được tốt các điều kiện đủ thì dù có thể cân đối được các nguồn năng lượng sơ cấp, vẫn nên phát triển điện hạt nhân, không những do điện hạt nhân cũng có nhiều ưu điểm, có tính cạnh tranh so với các công nghệ sản xuất điện khác mà còn do một lý do quan trọng là chuẩn bị mọi điều kiện, mọi lực lượng để tiếp thu và phát triển mạnh mẽ điện hạt nhân vào những thời gian sau Nhà máy điện hạt nhân đầu tiên khi không còn khả năng cân đối nguồn năng lượng sơ cấp...
Tư vấn phản biện cũng nêu nhận xét của mình về hai quan điểm cực đoan trong phát triển điện hạt nhân:
+ Quan điểm thứ nhấtlà bênh vực thái quá phương án phát triển điện hạt nhân, xem đây là phương án cứu cánh duy nhất đẻ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng kể từ thời điểm sau năm 2015. Trường phái này có quan điểm đơn giản hóa và tuyệt đối hóa khả năng đảm bảo chế ngự mọi tiềm ẩn rủi ro; tuyệt đối hóa tính ưu việt của điện hạt nhân, coi đó là năng lượng sạch, trong khi cho đến nay, trong các hoạt động theo cơ chế phát triển sạch (CDM), người ta không coi điện hạt nhân là nguồn phát năng lượng sạch.
+ Ngược lại với quan điểm thứ nhất, đó là quan điểm bài bác, phản đối xây dựng điện hạt nhân ở Việt Nam . Trường phái này đã đánh giá thiên lệch quá mức về nguy cơ mất an toàn của điện hạt nhân, coi đó là một hiểm họa khó lường, khó tránh khỏi, coi việc xử lý chất thải phóng xạ là một tồn tại không khắc phục được của loài người. Đối với họ thảm họa Trecnobưn là một ám ảnh thường trực mãi mãi đối với tất cả các Nhà máy điện hạt nhân. Tất cả những tư duy này đã gieo vào dư luận xã hội nỗi lo sợ về một hiểm họa khủng khiếp giống như một vụ nổ bom nguyên tử, mà thực ra không phải là như vậy...
- Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hùng: Chi Hội trưởng Chi Hội Nhà máy điện Nguyên tử và Thiết bị (trực thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam) trình bày hai sự cố hạt nhân điển hình ở Mỹ và ở Liên Xô.
1. Sự cố tại Three Mile Island(Mỹ):
Sự cố xảy ra ngày 28/3/1979 tại tổ máy số 2 nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island(TMI-2). Đây là tổ máy công nghệ lò PWR (nước áp lực) công suất 900 MWe. Diễn biến chính như sau:
Tổ máy đang làm việc cấp điện bình thường. Nước cấp cho thiết bị sinh hơi bỗng nhiên không được đảm bảo vì bơm cấp nước chính vì lí do nào đó ngừng hoạt động. Khi bơm dự phòng được khởi động thì van nước cấp trên đường ống lại bị khóa (do khóa lại khi bảo dưỡng, nhưng khi bảo dưỡng xong lại quên mở ra). Do vậy lượng nhiệt từ lò phản ứng theo vòng nước sơ cấp đưa tới thiết bị sinh hơi không được tản đi dẫn tới nhiệt độ và áp suất trong vòng sơ cấp cao hơn 350 lần mức bình thường... Tuy nhiên lượng khí phóng xạ thoát ra bên ngoài không đáng kể, theo đánh giá, cư dân sống trong vùng cách xa nhà máy 80km chỉ phải nhận tia phóng xạ ở mức 0,01mSv/người so với lượng phóng xạ tự nhiên trong 1 năm là 2,4mSv.
2. Sự cố tại Trecnôbưn:
Sự cố xảy ra ngày 26/4/1986 tại tổ máy số 4 nhà máy điện hạt nhân Trecnôbưng, Ukraina. Đây là tổ máy với công nghệ lò RBMK của Liên Xô, công suất 1.000MWe.
Tổ máy tiến hành giảm công suất để dừng lò theo kế hoạch. Nhóm nhân viên vận hành chuẩn bị làm thí nghiệm ở mức công suất khoảng 700MW (mức ngưỡng vận hành an toàn lò).
Do thanh kiều khiển từ trên xuống và với tốc độ chậm nên hoạt độ phần dưới vùng hoạt tăng nhanh dẫn đến công suất lò tăng lên hơn 100 lần so với thiết kế. Các thanh nhiên liệu bị nóng chảy phản ứng với nước tạo thành các xung áp suất lớn. Bản thân lò không có thùng lò, chỉ có nắp phía trên là khối bê thông cốt thép nặng khoảng 200 tấn vừa làm nắp lò vừa là cơ cấu giữ các bó nhiên liệu, do vậy khi áp suất lớn đã làm bật tung nắp lò gây nên nhiều tiếng nổ lớn. Không khí bên ngoài tràn vào kết hợp với các khối graphit tạo thành carbon mônôoxid và thành đám cháy rực lớn trong khu vực lò.
Thanh đánh giá, lượng tia phóng xạ mà cư dân trong vòng bán kính 30km từ nhà máy nhận được khoảng 120mSv, tức cao hơn 50 lần so với lượng tia phóng xạ tự nhiên (2,4mSv). Chất phóng xạ vượt qua biên giới Liên Xô làm ô nhiễm một phạm vi rộng lớn các nước châu Âu.
3. Các kết luận rút ra từ hai sự cố nêu trên:
a. Về sự cố Three Mile Island:
- Đối với thiết bị: Bơm cấp nước chính hỏng; Các van giảm áp trên bộ điều áp PORV không đóng lại được sau khi áp suất lò đã giảm; Thiết bị chỉ thị (đo lường) hoạt động không tin cậy.
- Đối với người quản lý vận hành: Làm sai quy trình bảo dưỡng và vận hành: các van nối bơm với thiết bị sinh hơi bị đóng sau khi bảo dưỡng đã không mở nó ra khi vận hành; Trình độ chuyên môn chưa đáp ứng dẫn đến việc phán đoán và xử lý tình huống nhiều sai lầm. Hệ thống bàn điều khiển quá phức tạp gây ra khó khăn cho người vận hành khi phải xử lý tình huống sự cố.
b. Về sự cố Trecnôbưn:
- Đối với thiết bị (thiết kế): Lò vận hành không ổn định, dễ mất điều khiển ở công suất thấp; Hệ thống điều khiển tự động chuyển chậm; Không có thùng (vỏ) lò giữ chất phòng xạ; Hệ thống tải nhiệt và hệ thống điều khiển rất phức tạp.
- Đối với người quản lý vận hành: Lập kế hoạch thử nghiệm và ưu tiên cho việc thử nghiệm quá tùy tiện; Vi phạm nguyên tắc vận hành, thiếu kiến thức chuyên môn...
4. Vấn đề an toàn nhà máy điện hạt nhân:
Vấn đề an toàn và công luận xã hội là những thách thức lớn đối với ngành năng lượng hạt nhân thế giới. Trong 20 năm 1ua (kể từ khi có sự cố Trecnôbưn năm 1986) ngành năng lượng hạt nhân đã có những tiến bộ vượt bậc. Vấn đề vận hành an toàn nhà máy điện hạt nhân luôn được đặt lên hàng đầu. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ, các chỉ tiêu về môi trường được nâng cao.
Bảo vệ/phòng thủ theo chiều sâu (defence - in - depth) đang là một phương pháp luận được chấp nhận rộng rãi trên thế giới như sự kết tinh của kiến thức, kinh nghiệm và công nghệ của ngành năng lượng hạt nhân cho đến thời điểm này. Khi được áp dụng một cách thấu đáo thì nguyên lý này có thể đảm bảo rằng không một sự cố nào xuất phát từ con người hoặc thiết bị có thể gây tổn thương đến công chúng, và các tổ hợp khác nhau của các sự cố cũng không gây tổn thương hoặc chỉ ảnh hưởng ở mức độ thấp nhất.
Nhiều nhà lãnh đạo quốc gia và chuyên gia uy tín trong ngành năng lượng hạt nhân thế giới đã nhận xét: Chúng ta đang ở thời kỳ phục hưng của nhà máy điện hạt nhân ...








