Đền Lạc Chính – một số giá trị văn hoá, lịch sử
Từ thành phố Nam Định, qua cầu Đò Quan, theo đường 55 đến ngã ba Tam Thôn rẽ vào 4 km là tới đền. Theo các bậc cao niên trong làng kể lại: trước đây, vùng đất này còn rất hoang vu, đất rộng, người thưa, chim trời, cá nước thoả sức đánh bắt. Ban đầu, là những bậc tiền hiền của các dòng họ Hà, họ Đồng, họ Nguyễn đến khai tịch, lập hương. Về sau có dòng họ Vũ, họ Phạm... đến cộng cư, xóm làng trở nên đông đúc, trù mật. Bởi vậy, các bậc lý trưởng, hương trưởng, quan tuần... đã đặt tên làng là Lạc Chính và tên đền cũng lấy theo địa danh của làng.
Trong quá trình định cư trên vùng đất mới, cộng đồng các dòng họ ở đây đã xác lập một diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội khá rõ nét. Mọi người tin vào các lực lượng siêu nhiên theo quan niệm “vạn vật hữu linh”, “đất có thổ công – sông có hà bá” cai quản. Vì vậy, trong quá trình lập làng, họ đã xây dựng đình, chùa, đền , miếu, nghè để cầu mong thần thánh ban phúc lưu an cho dân làng được an khang, thịnh vượng.
Đền được dựng trên một thế đất đẹp, bằng phẳng, vuông góc. Theo thuyết phong thuỷ, đền ngoảnh mặt theo hướng đông – nam, hướng của sự tốt lành, an bình, phát triển. Trước đền ở phía xa là dòng sông Ninh Cơ, bên tả là sông Hồng bao quanh, uốn lượn theo hình “liên thuỷ giải lụa”, tạo nên một vùng đất tụ khí anh hoa.
Theo chữ Hán ghi trên thượng lương của ngôi tiền đường: “Hoàng Triều Thành Thái Quý hợi niên tạo” thì đền làm vào năm Quý Hợi, niên hiệu Thành Thái (1874). Tuy nhiên, tiền thân của ngôi đền thì đã có từ lâu. Các cụ trong làng nói rằng, xa xưa trẻ em chăn trâu làng Lạc Chính thường nghe kể về đền Lác Môn (nay là làng Ninh Cường, xã Trực Phú, cùng huyện) thờ Chúa Bà rất linh thiêng, ai đến cầu đảo đều linh ứng.
Đám trẻ đã bơi qua sông Ninh Cơ vào đền lấy chân hương mang về rồi lấy đất đắp thành một bệ vuông ở bãi cỏ cạnh bờ sông, sau đó đặt các lễ vật làm giả bằng đất, lấy cành cây làm hương, người làm kiệu rước, đến ngày tuần tiết thì góp lễ vật thật, thắp hương cúng Chúa Bà. Chẳng hiểu thế nào mà bỗng nhiên năm ấy, trâu của làng chết hàng loạt. Người ta bảo rằng do bạn trẻ đùa nghịch như vậy, nên bị Chúa Bà “quở trách”. Dân làng lo sợ, liền góp công, góp của dựng lên ngôi đền thờ tại làng Phụng Nghiêm (cùng xã).
Đến năm 1874, ngôi đền mới được xây dựng tại làng Lạc Chính và họ rước chân nhang, bài vị, sắc phong từ miếu Phụng Nghiêm về thờ. Từ đó cho đến nay, đền được tu sửa nhiều lần (năm 1899 xây hậu cung và dựng ngôi tiền đường). Năm 1929 nâng cấp và xây 3 gian trung đường. Năm 1933, tiếp tục nâng cấp, tôn cao nền và làm hàng cột hiên bằng đá.
Từ điển di tích văn hoá Việt Nam, tr.121 ghi: Vào niên hiệu Tưởng Hưng (1278 – 1279), quân Tống bị quân Nguyên đánh bại ở Nhai Sơn (Trung Hoa), vua Tống đem gia quyến và bề tôi, quân lính tuỳ tòng hơn 800 người lên thuyền rồi chạy trốn ra biển. Thế lực cùng tận, lại bị quân giặc đuổi theo rất gấp, vua tôi phải nhảy xuống biển tự tử. Tử thi Thái hậu họ Dương và công chúa trôi dạt vào cửa Cờn ở xã Phương Cần (Nghệ An), sắc mặt vẫn hồng hào như còn sống. Dân chài bản xa thương xót lo liệu chôn cất, dựng thảo am để thờ, cho dân thôn cầu đảo.
Khi vua Trần Anh Tông mang quân đi đánh giặc phía Nam (năm 1311) qua cửa Cờn, chiêm bao thấy một Nữ thần đến khóc lóc nói với vua rằng: “Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, lại gặp sóng gió, trôi dạt đến đây. Bấy lâu nay thiếp được Thượng đế cho làm Thần biển. Nay bệ hạ mang quân đi chinh phạt, thiếp xin theo giúp lập công”. Vua Trần làm lễ rồi lên thuyền, bỗng nhiên trời yên biển lặng... Khi thắng lớn trở về, sai hữu ty lập đền thờ, cho bốn mùa cúng tế, tôn xưng làm “Quốc mẫu Vương bà”, ban chiếu khắp các miền duyên hải lập miếu thờ, với danh xưng “Tối linh thần”. (Tác giả Hồ Lan trong bài “Hoàng Mai – nơi địa đầu xứ Nghệ”có nhắc đến sự tích này và là một dị bản có ít nhiều khác biệt. Xem Dân tộc & Thờiđạisố 92, tr.26-27. Chú thích của Biên tập viên).
Trải qua bao nhiêu thời gian với những thăng trầm biến động, đền chịu chung số phận với những đổi thay của lịch sử dân tộc: chiến tranh, mưa nắng, lụt bão và cả sự tàn phá của con người. Xưa, đền tráng lệ, nguy nga, nay bị hư hỏng dần theo năm tháng. Mãi đến năm 2005, ngôi đền mới được trùng tu với quy mô lớn bằng sự quan tâm, ủng hộ, giúp công, góp sức của chính quyền và nhân dân địa phương, nhất là sự phát tâm công đức của thân mẫu, và anh em ông Đồng Văn Bột – người con của quê hương.
![]() |
Qua nghi môn, là đường thần đạo rồi vào đến sân và giếng rồng. Theo quan niệm, giếng rồng vừa để trang trí, tạo cho ngôi đền nét đẹp cổ kính, vừa là điểm huyệt (long mạch), trấn giữ khí độc, đón khí lành làm cho ngôi đền được trường tồn. Từ quan niệm đó, người ta lập bát hương thờ thần long tỉnh (thần rồng) ngay tại giếng và vào ngày lễ hội, lấy nước làm lễ “mộc dục” (tắm tượng), bao sái đồ thờ.
Tiếp theo, du khách qua sân rồi vào đền lễ Chúa Bà. Đền xây 5 gian theo kiểu chữ Đinh, đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, hai đầu bờ nóc đắp hai rồng chầu mặt nhật. Các bộ vì kèo làm theo kiểu “giá chiêng”, liên kết giữa các hàng cột cái, cột con, cột hiên với nhau, tạo không gian cho ngôi đền thoáng và rộng. Phần trên quá giang, cốn mê, lá rong được chạm khắc rất tinh xảo, với các con vật tứ linh, tứ quý và hoa văn triện gấm, ky hà, hoa cúc dây. Đặc biệt, trên các đồ thờ bằng gỗ (án gian, khám, giá chiêng, giá trống), thể hiện nét trạm khắc tinh xảo.
Trong cung cấm thờ tứ vị Thánh nương (tượng Quốc mẫu, Hoàng hậu họ Dương (Trung Hoa – DT & TĐ) và nhị vị Công chúa) . Gian chung thờ bá quan văn – võ và hai phía đầu hồi phối thờ “Lục vị tiền hiền” có công với dân khai ruộng, lập làng. Ngoài ra trong đền còn bảo lưu nhiều đồ thờ quý làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng như: gươm, giá quán tẩy, giá chiêng, giá trống, kỷ đựng nước cúng, đài nước , đài rượu, đài cơm, bát hương và nậm rượu bằng sứ, màu men lam từ đời Thanh. Đặc biệt, đền Lạc Chính còn lưu giữ được 4 đạo sắc phong (tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909) và Khải Định thứ 9 (1924) đều phong tặng: “Đại càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương” cùng với các mỹ tự “Hàm hoằng quang đại,Chi đức phổ bác, Hiển hoá trang huy, Dực bảo trung hưng, Đại cán quốc gia”, cho dân thôn, bản hạt thờ phụng.
Hàng năm, vào ngày 7 tháng giêng, gắn liền với lễ hạ cây nêu ngày tết, dân làng tổ chức mở hội cầu “Quốc thái dân an”. Theo lệ trước đây, tối mùng 6, những đứa trẻ ngồi trên lưng trâu, tay cầm bó đuốc đi dạo quanh làng, tái hiện cảnh đám mục đồng bơi qua sông vào đền Lác Môn lấy chân nhang về thờ, gọi là lễ rước mục đồng.
Đồng thời, những bó đuốc tượng trưng cho các nén hương rước Chúa Bà đi quanh làng với niềm hy vọng sẽ được phù hộ cho bình an, mạnh khoẻ, dịch bệnh tiêu trừ, gia súc béo tốt. Nghi lễ này nay không còn nữa. Lần cuối cùng được tổ chức vào năm 1952.
Ngoài ra, đền Lạc Chính còn mang dấu tích lích sử cách mạng. Vào thời kỳ “Việt Nam độc lập Đồng minh”, đền còn là trụ sở Hội Thanh niên Cứu quốc của Đoàn Phủ bộ Nghĩa Hưng. Trong 9 năm kháng chiến (1945 – 1954) nơi đây còn là cơ sở nuôi giấu cán bộ hoạt động bí mật, trạm phẫu thuật, cứu chữa, nuôi dưỡng thương binh, các chiến sĩ cách mạng và là nơi cất dấu vũ khí, khí tài tại hầm bí mật dưới lòng đất trong đền.
Với những giá trị về văn hoá và lịch sử như trên, thiết nghĩ các cấp chính quyền địa phương và Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Nam Định cần nghiên cứu, xem xét và sớm lập hồ sơ khoa học xếp hạng quần thể di tích này cho xứng đáng với những giá trị văn hoá, lịch sử của ngôi đền.
Nguồn : T/C Dân tộc – Thời đại, số 93 , 8/2006









