Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 07/11/2006 00:03 (GMT+7)

Đền Lạc Chính – một số giá trị văn hoá, lịch sử

Từ thành phố Nam Định, qua cầu Đò Quan, theo đường 55 đến ngã ba Tam Thôn rẽ vào 4 km là tới đền. Theo các bậc cao niên trong làng kể lại: trước đây, vùng đất này còn rất hoang vu, đất rộng, người thưa, chim trời, cá nước thoả sức đánh bắt. Ban đầu, là những bậc tiền hiền của các dòng họ Hà, họ Đồng, họ Nguyễn đến khai tịch, lập hương. Về sau có dòng họ Vũ, họ Phạm... đến cộng cư, xóm làng trở nên đông đúc, trù mật. Bởi vậy, các bậc lý trưởng, hương trưởng, quan tuần... đã đặt tên làng là Lạc Chính và tên đền cũng lấy theo địa danh của làng.

Trong quá trình định cư trên vùng đất mới, cộng đồng các dòng họ ở đây đã xác lập một diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội khá rõ nét. Mọi người tin vào các lực lượng siêu nhiên theo quan niệm “vạn vật hữu linh”, “đất có thổ công – sông có hà bá” cai quản. Vì vậy, trong quá trình lập làng, họ đã xây dựng đình, chùa, đền , miếu, nghè để cầu mong thần thánh ban phúc lưu an cho dân làng được an khang, thịnh vượng.

Đền được dựng trên một thế đất đẹp, bằng phẳng, vuông góc. Theo thuyết phong thuỷ, đền ngoảnh mặt theo hướng đông – nam, hướng của sự tốt lành, an bình, phát triển. Trước đền ở phía xa là dòng sông Ninh Cơ, bên tả là sông Hồng bao quanh, uốn lượn theo hình “liên thuỷ giải lụa”, tạo nên một vùng đất   tụ khí anh hoa.

Theo chữ Hán ghi trên thượng lương của ngôi tiền đường: “Hoàng Triều Thành Thái Quý hợi niên tạo” thì đền làm vào năm Quý Hợi, niên hiệu Thành Thái (1874). Tuy nhiên, tiền thân của ngôi đền thì đã có từ lâu. Các cụ trong làng nói rằng, xa xưa trẻ em chăn trâu làng Lạc Chính thường nghe kể về đền Lác Môn (nay là làng Ninh Cường, xã Trực Phú, cùng huyện) thờ Chúa Bà rất linh thiêng, ai đến cầu đảo đều linh ứng.

Đám trẻ đã bơi qua sông Ninh Cơ vào đền lấy chân hương mang về rồi lấy đất đắp thành một bệ vuông ở bãi cỏ cạnh bờ sông, sau đó đặt các lễ vật làm giả bằng đất, lấy cành cây làm hương, người làm kiệu rước, đến ngày tuần tiết thì góp lễ vật thật, thắp hương cúng Chúa Bà. Chẳng hiểu thế nào mà bỗng nhiên năm ấy, trâu của làng chết hàng loạt. Người ta bảo rằng do bạn trẻ đùa nghịch như vậy, nên bị Chúa Bà “quở trách”. Dân làng lo sợ, liền góp công, góp của dựng lên ngôi đền thờ tại làng Phụng Nghiêm (cùng xã).

Đến năm 1874, ngôi đền mới được xây dựng tại làng Lạc Chính và họ rước chân nhang, bài vị, sắc phong từ miếu Phụng Nghiêm về thờ. Từ đó cho đến nay, đền được tu sửa nhiều lần (năm 1899 xây hậu cung và dựng ngôi tiền đường). Năm 1929 nâng cấp và xây 3 gian trung đường. Năm 1933, tiếp tục nâng cấp, tôn cao nền và làm hàng cột hiên bằng đá.

Từ điển di tích văn hoá Việt Nam, tr.121 ghi: Vào niên hiệu Tưởng Hưng (1278 – 1279), quân Tống bị quân Nguyên đánh bại ở Nhai Sơn (Trung Hoa), vua Tống đem gia quyến và bề tôi, quân lính tuỳ tòng hơn 800 người lên thuyền rồi chạy trốn ra biển. Thế lực cùng tận, lại bị quân giặc đuổi theo rất gấp, vua tôi phải nhảy xuống biển tự tử. Tử thi Thái hậu họ Dương và công chúa trôi dạt vào cửa Cờn ở xã Phương Cần (Nghệ An), sắc mặt vẫn hồng hào như còn sống. Dân chài bản xa thương xót lo liệu chôn cất, dựng thảo am để thờ, cho dân thôn cầu đảo.

Khi vua Trần Anh Tông mang quân đi đánh giặc phía Nam (năm 1311) qua cửa Cờn, chiêm bao thấy một Nữ thần đến khóc lóc nói với vua rằng: “Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, lại gặp sóng gió, trôi dạt đến đây. Bấy lâu nay thiếp được Thượng đế cho làm Thần biển. Nay bệ hạ mang quân đi chinh phạt, thiếp xin theo giúp lập công”. Vua Trần làm lễ rồi lên thuyền, bỗng nhiên trời yên biển lặng... Khi thắng lớn trở về, sai hữu ty lập đền thờ, cho bốn mùa cúng tế, tôn xưng làm “Quốc mẫu Vương bà”, ban chiếu khắp các miền duyên hải lập miếu thờ, với danh xưng “Tối linh thần”. (Tác giả Hồ Lan trong bài “Hoàng Mai – nơi địa đầu xứ Nghệ”có nhắc đến sự tích này và là một dị bản có ít nhiều khác biệt. Xem Dân tộc & Thờiđạisố 92, tr.26-27. Chú thích của Biên tập viên).

Trải qua bao nhiêu thời gian với những thăng trầm biến động, đền chịu chung số phận với những đổi thay của lịch sử dân tộc: chiến tranh, mưa nắng, lụt bão và cả sự tàn phá của con người. Xưa, đền tráng lệ, nguy nga, nay bị hư hỏng dần theo năm tháng. Mãi đến năm 2005, ngôi đền mới được trùng tu với quy mô lớn bằng sự quan tâm, ủng hộ, giúp công, góp sức của chính quyền và nhân dân địa phương, nhất là sự phát tâm công đức của thân mẫu, và anh em ông Đồng Văn Bột – người con của quê hương.

Mở đầu công trình kiến trúc là nghi môn, xây theo kiểu “bán đình” với cửa chính nối liền đường thần đạo, đánh dấu từ chốn trần tụcđến chốn thần linh. Trên hai trụ “hoa biểu” đặt hai con lân ngoảnh mặt vào nhau để trang trí. Phía dưới là hàng câu đối chữ Hán, ca ngợi cảnh làng quê và sự linh ứng của ngôi đền. Ngoài ra, trên bờdải, bờ nóc của nghi môn còn đắp các hoa văn hình học, tay mướp, hoa cúc dây, dơi ngậm chữ thọ, rồng chầu mặt nhật..., với ước vọng, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, người an, vậtthịnh.

Qua nghi môn, là đường thần đạo rồi vào đến sân và giếng rồng. Theo quan niệm, giếng rồng vừa để trang trí, tạo cho ngôi đền nét đẹp cổ kính, vừa là điểm huyệt (long mạch), trấn giữ khí độc, đón khí lành làm cho ngôi đền được trường tồn. Từ quan niệm đó, người ta lập bát hương thờ thần long tỉnh (thần rồng) ngay tại giếng và vào ngày lễ hội, lấy nước làm lễ “mộc dục” (tắm tượng), bao sái đồ thờ.

Tiếp theo, du khách qua sân rồi vào đền lễ Chúa Bà. Đền xây 5 gian theo kiểu chữ Đinh, đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, hai đầu bờ nóc đắp hai rồng chầu mặt nhật. Các bộ vì kèo làm theo kiểu “giá chiêng”, liên kết giữa các hàng cột cái, cột con, cột hiên với nhau, tạo không gian cho ngôi đền thoáng và rộng. Phần trên quá giang, cốn mê, lá rong được chạm khắc rất tinh xảo, với các con vật tứ linh, tứ quý và hoa văn triện gấm, ky hà, hoa cúc dây. Đặc biệt, trên các đồ thờ bằng gỗ (án gian, khám, giá chiêng, giá trống), thể hiện nét trạm khắc tinh xảo.

Trong cung cấm thờ tứ vị Thánh nương (tượng Quốc mẫu, Hoàng hậu họ Dương (Trung Hoa – DT & TĐ) và nhị vị Công chúa) . Gian chung thờ bá quan văn – võ và hai phía đầu hồi phối thờ “Lục vị tiền hiền” có công với dân khai ruộng, lập làng. Ngoài ra trong đền còn bảo lưu nhiều đồ thờ quý làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng như: gươm, giá quán tẩy, giá chiêng, giá trống, kỷ đựng nước cúng, đài nước , đài rượu, đài cơm, bát hương và nậm rượu bằng sứ, màu men lam từ đời Thanh. Đặc biệt, đền Lạc Chính còn lưu giữ được 4 đạo sắc phong (tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909) và Khải Định thứ 9 (1924) đều phong tặng: “Đại càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương” cùng với các mỹ tự “Hàm hoằng quang đại,Chi đức phổ bác, Hiển hoá trang huy, Dực bảo trung hưng, Đại cán quốc gia”, cho dân thôn, bản hạt thờ phụng.

Hàng năm, vào ngày 7 tháng giêng, gắn liền với lễ hạ cây nêu ngày tết, dân làng tổ chức mở hội cầu “Quốc thái dân an”. Theo lệ trước đây, tối mùng 6, những đứa trẻ ngồi trên lưng trâu, tay cầm bó đuốc đi dạo quanh làng, tái hiện cảnh đám mục đồng bơi qua sông vào đền Lác Môn lấy chân nhang về thờ, gọi là lễ rước mục đồng.

Đồng thời, những bó đuốc tượng trưng cho các nén hương rước Chúa Bà đi quanh làng với niềm hy vọng sẽ được phù hộ cho bình an, mạnh khoẻ, dịch bệnh tiêu trừ, gia súc béo tốt. Nghi lễ này nay không còn nữa. Lần cuối cùng được tổ chức vào năm 1952.

Ngoài ra, đền Lạc Chính còn mang dấu tích lích sử cách mạng. Vào thời kỳ “Việt Nam độc lập Đồng minh”, đền còn là trụ sở Hội Thanh niên Cứu quốc của Đoàn Phủ bộ Nghĩa Hưng. Trong 9 năm kháng chiến (1945 – 1954) nơi đây còn là cơ sở nuôi giấu cán bộ hoạt động bí mật, trạm phẫu thuật, cứu chữa, nuôi dưỡng thương binh, các chiến sĩ cách mạng và là nơi cất dấu vũ khí, khí tài tại hầm bí mật dưới lòng đất trong đền.

Với những giá trị về văn hoá và lịch sử như trên, thiết nghĩ các cấp chính quyền địa phương và Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Nam Định cần nghiên cứu, xem xét và sớm lập hồ sơ khoa học xếp hạng quần thể di tích này cho xứng đáng với những giá trị văn hoá, lịch sử của ngôi đền.

Nguồn : T/C Dân tộc – Thời đại, số 93 , 8/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.