Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 31/07/2014 20:58 (GMT+7)

Đầu tư cho viện/trường: Những hạn chế đáng tiếc

  Với mục tiêu nâng cao chất lượng nghiên cứu, tạo ra và đưa nhanh các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, Nhà nước đã đầu tư một lượng kinh phí lớn xây dựng một số viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, và phòng thí nghiệm tại nhiều viện nghiên cứu và trường đại học.

Việc đầu tư cho các viện nghiên cứu mặc dù được tiến hành theo một số cách tiếp cận khác nhau tuy nhiên mô hình chủ đạo là Nhà nước đầu tư tập trung cho các cơ sở mua sắm các trang thiết bị nghiên cứu theo định hướng phát triển một ngành, một lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Ưu điểm của mô hình này là với suất đầu tư lớn, các viện nghiên cứu có thể hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu trong một thời gian ngắn; và các thiết bị nghiên cứu được đầu tư mới hiện đại tương đương với khu vực và thế giới và hệ thống thiết bị đầu tư khá đồng bộ. Cho đến nay, nhiều viện nghiên cứu/phòng thí nghiệm với cơ sở trang thiết bị nghiên cứu hiện đại đã được hình thành và bước đầu vận hành hiệu quả giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, mô hình đầu tư xây dựng này đã bộc lộ một số hạn chế mà nếu được khắc phục kịp thời sẽ giúp làm tăng hiệu quả đầu tư, cũng như khả năng vận hành của các viện nghiên cứu.

Không hoạt động đúng như thiết kế ban đầu

Vấn đề đầu tiên, đó là việc thiết kế tổng thể và xây dựng lộ trình đầu tư của các dự án xây dựng phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu. Trong điều kiện lực lượng cán bộ nghiên cứu còn khiêm tốn về số lượng, và còn ít kinh nghiệm về tổ chức quản lý các phòng thí nghiệm tập trung cũng như vận hành các thiết bị công nghệ cao, luôn có một xác suất đáng kể các thiết bị được đầu tư hoạt động không đúng như thiết kế ban đầu, hoặc không đủ điều kiện vận hành. Việc xây dựng được một thiết kế tổng thể và một lộ trình đầu tư phù hợp, có tương quan hợp lý giữa lực lượng cán bộ và số lượng trang thiết bị được đầu tư sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc tiếp nhận và đưa các thiết bị được đầu tư vào hoạt động một cách hiệu quả. Ngoài ra, việc tìm được những người đứng đầu có kinh nghiệm, có tri thức khoa học và am hiểu sâu sắc về lĩnh vực được đầu tư phát triển, và có thể đảm bảo thời gian làm việc xuyên suốt thời gian đầu tư của dự án cũng là một yếu tố quan trọng cho sự thành công.

Thiếu kinh phí bảo dưỡng

Một vấn đề khác mà nhiều viện nghiên cứu đã gặp phải chính là việc đảm bảo hoạt động cho phòng thí nghiệm và các thiết bị nghiên cứu hiện đại được đầu tư ngay trong quá trình và sau khi kết thúc dự án. Trong mô hình hiện nay, kinh phí đầu tư từ ngân sách Nhà nước (NSNN) chỉ được sử dụng cho việc mua thiết bị nghiên cứu, trong khi kinh phí cho việc đảm bảo hoạt động thiết bị sẽ do đơn vị được đầu tư đối ứng. Về lý thuyết, mô hình này sẽ giúp nâng cao tính tự chủ, và trách nhiệm của đơn vị được đầu tư trong việc đảm bảo hoạt động và vận hành khai thác hiệu quả thiết bị được đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều các thiết bị nghiên cứu công nghệ cao có giá thành lên đến hàng chục tỷ đồng, đòi hỏi không chỉ điều kiện vận hành ngặt nghèo, mà còn cần chi phí vận hành hằng năm lên đến nhiều tỷ đồng. Hợp đồng bảo dưỡng định kỳ và thay thế phụ kiện đối với các thiết bị này, cũng có thể lên tới hàng chục nghìn USD/năm cho các hợp đồng kéo dài 3-5 năm (sau thời gian bảo hành). Yêu cầu kinh phí như trên là rất lớn và ngoài khả năng đáp ứng của hầu hết các viện nghiên cứu, cũng như rất lớn so với kinh phí nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu được cấp từ NSNN. Do đó, để tránh lãng phí do các thiết bị không thể vận hành vì thiếu kinh phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của các phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu đầu tư tập trung và trọng điểm, những chính sách hỗ trợ cụ thể theo một lộ trình thời gian dài hạn (5-10 năm) của Nhà nước là hết sức cần thiết trước khi các đơn vị này có thể tự vận hành bằng kinh phí thu được từ các hoạt động nghiên cứu theo hợp đồng, hay dịch vụ nghiên cứu. Đây cũng là chính sách hiện đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới đối với các trung tâm/viện nghiên cứu tập trung nhằm đảm bảo cơ sở hạ tầng hỗ trợ nghiên cứu phát triển công nghệ mới (ví dụ mô hình MESA + Institute for Nanotechnology – Hà Lan; National NanoFab Center –Hàn Quốc).

Chưa phát huy hết hiệu suất sử dụng

Trong giai đoạn vừa qua, đa số các phòng thí nghiệm/viện nghiên cứu được đầu tư nằm ở các viện nghiên cứu, trường đại học – các cơ sở mạnh về nghiên cứu cơ bản, và đây được xem là bước đi cần thiết nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ, chất lượng và năng lực nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên, để có thể phát triển được các công nghệ ứng dụng, giải quyết bài toán sản phẩm ở quy mô công nghiệp, có giá trị gia tăng, và cạnh tranh quốc gia cao trong giai đoạn sắp tới, Nhà nước cần chú trọng đầu tư xây dựng các viện/trung tâm nghiên cứu có tính mục tiêu sản phẩm và có sự gắn kết với các tập đoàn, công ty công nghiệp lớn. Việc thành lập các viện nghiên cứu này phải đảm bảo hội tụ nhu cầu của cả hai phía (viện/trường và công ty/tập đoàn công nghiệp) và nguồn vốn đầu tư và phát triển phải đến từ nhiều phía, bao gồm đóng góp của các tập đoàn/công ty (chủ yếu), hỗ trợ của Nhà nước và vốn đối ứng của chính bản thân các viện/trường.

Đối với các viện nghiên cứu/phòng thí nghiệm đầu tư tập trung, trọng điểm, các phòng thí nghiệm hoạt động theo phương thức mở cung cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu (R&D), hiệu quả và hiệu suất sử dụng các trang thiết bị được đầu tư phụ thuộc vào số lượng các dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu (của các cán bộ trong và ngoài đơn vị) thực hiện tại các cơ sở này, cũng như số lượng đơn đặt hàng, số lượng các hợp đồng chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp/công ty/tập đoàn kinh tế. Cho đến nay, do chính sách kinh phí ngắn hạn, hầu hết các nhiệm vụ nghiên cứu chỉ kéo dài hai-ba năm, các nhiệm vụ nghiên cứu còn mang nhiều tính đơn lẻ, giải quyết những vấn đề nhỏ, cụ thể mà chưa được định hướng tập trung để giải quyết những bài toán lớn đi từ nghiên cứu phát triển công nghệ đến sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển KH&CN dài hạn, cần gắn việc thành lập các viện nghiên cứu với định hướng hỗ trợ phát triển công nghệ và nhân lực trình độ cao cho một ngành công nghiệp, một lĩnh vực cụ thể (với sự đóng góp tài chính của chính những đơn vị này). Việc xây dựng các chương trình nghiên cứu dài hạn, các dự án nghiên cứu trọng điểm (5, 7, 9 năm) nhằm tập trung nhân lực giải quyết những bài toán khoa học lớn, nghiên cứu phát triển công nghệ gốc, và tạo ra các sản phẩm mới, sản phẩm quy mô quốc gia do đó cũng là hết sức cần thiết.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.