Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 13/09/2007 23:45 (GMT+7)

Ðạo Phật đời Lý

1. Tín ngưỡng ở Giao châu

Trước khi các tông giáo tràn vào, người Việt chắc đã tôn sùng những mãnh lực thiên nhiên, như núi sông, sấm chớp. Những di tích còn lại không những ở trong tập tục của dân gian, mà trong điển lệ tế tự, nay còn những vị thần, được thờ tại rất nhiều nơi, mà không ai biết rõ gốc tích từ đâu tới. Thần Cao sơnchắc cũng là đức thánh Tản viên, thần Long thủy có lẽ gốc ở thác Bờ. Lại như các đền hay "chùa" Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiệnhẳn là di tích các thần mây, mưa, sấm, chớp.

Ðến hồi Bắc thuộc, đạo Nho và đạo Lão được đem vào. Nhất là trong đời loạn li sau khi Hán mất, Sĩ Nhiếp là thái thú ở Giao châu, giữ một vùng yên ổn, thì nhiều nhà trí thức Trung hoa tụ tập ở Luy lâu, trị sở Giao châu. Nhờ đó Nho học và Ðạo học lại càng bành trướng. Trong hai đạo mới, đạo Lão là thích hợp với tín ngưỡng gốc của dân Việt, cho nên nó lan tràn chóng và hòa lẫn với những tập tục dân gian. Còn như Nho giáo, tuy được dựa thế những kẻ cầm quyền, phần đông là nho sĩ, nhưng nó cũng chỉ giữ tính cách thường chứ không thành một tín ngưỡng mới.

Sau đó, đạo Phật từ Ấn độ mới lan đến góc đông nam lục địa. Với tính cách ôn hòa, thần bí, Phật giáo chóng ăn sâu vào lòng tín ngưỡng người Việt. Nó dung hòa dễ dàng với sự sùng bái thường, và nó dễ đi đôi với Ðạo giáo đến đấy từ trước.

Ba tông giáo Nho, Lão, Phật đã sớm thành cơ bản của tín ngưỡng dân Việt, và đồng thời tiến triển. Cho nên thường gọi là Tam giáo. Tuy nói là tam giáo tịnh hành, nhưng theo thời đại, một hay hai giáo vẫn được chuộng hơn. Ta sẽ thấy trong thời nhà Lý, Phật giáo chiếm bậc nhất. Nhưng ta cũng phải nhận rằng Phật giáo hành ở xứ ta, cũng như ở Trung quốc bấy giờ, đã dung hòa với Ðạo giáo và những tín ngưỡng gốc ở dân gian. Nó đã biến thành một tông giáo lấy Phật làm gốc, nhưng lại ghép vào các vị thần linh, mà xưa chỉ là một mãnh lực thiên nhiên. Và nó dùng những kỳ thuật, theo đuổi những mục đích thích hợp với Ðạo giáo hơn là Phật giáo.

Ðịa vị các tăng gia, trong suốt đời Lý, vẫn là trọng; nhưng ảnh hưởng về chính trị hình như không có bao nhiêu. Về phương diện tinh thần và luân lý, thì hẳn rằng Phật giáo có ảnh hưởng lớn. Nó đã đổi cái triều đình vũ phu và mộc mạc của các đời Ðinh, Lê, đóng ở chỗ đầu ngàn cuối sông, ra một triều đình có qui mô, có lễ độ, ở giữa bình nguyên, có thể so bì với các nước khác ở miền bắc.

2. Ðạo Phật tới Việt

Nhờ một câu chuyện giữa thái hậu Linh nhân, tức là Ỷ lan, mẹ Lý Nhân tông, với một nhà sư có học uyên bác, mà ta còn biết gốc tích đạo Phật ở nước ta. Sách TUTA (1) còn ghi chuyện ấy rất rõ ràng trong chuyện Thông biện quốc sư  (TUTA 19a).

Ngày rằm tháng 2 năm Hội phong thứ 5 (1096), thái hậu đặt tiệc chay ở chùa Khai quốc, thết các tăng. Tiệc xong, thái hậu kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Thái hậu hỏi:

" Nghĩa hai chữ Phật   và Tổthế nào? Bên nào hơn? Ðạo tới xứ ta đời nào? Truyền thụ đạo ấy, ai trước ai sau? Mà sự niệm tên Phật, hiểu tâm tổ là do từ ý ai? "

Các sư đều im lặng. Chỉ có vị Trí khôngtrả lời rất tường tận từng khoản. Vì đó, thái hậu ban cho sư hiệu Thông biện quốc sư. Về đoạn truyền giáo vào xứ ta, lời sư đại khái như sau:

" Phật và Tổ là một. Phật  truyền đạo cho Ca diệp. Về đời Hán có Ma đằng   đem đạo vào Trung quốc, Ðạt malại truyền vào nước Lương và nước Ngụy. Ðạo rất thịnh khi dòng Thiên thai  thành lập. Dòng ấy gọi là Giáo tông. Sau lại có thêm dòng Tào khê, tức là dòng Thiền tông. Hai dòng ấy vào nước ta đã lâu năm. Về dòng Giáo, có Mâu Bác Khang tăng hộilà đầu. Về dòng Thiền, trước nhất có Tì ni đa lưu chi; sau đó, Vô ngôn thông lại lập ra một dòng Thiền khác nữa. "

Trí không trả lời như thế đã khá rõ ràng. Nhưng thái hậu có óc phán đoán, lại hỏi thêm chứng những điều nói trên. Sư trả lời rành mạch, dẫn những sách cũ, những lời của các người xưa, mà nay ta còn tìm lại được một phần, nó có thể khiến ta tin rằng những chứng Trí không đem ra đều là đích xác.

Trí không viện lời của hai người xưa bên Trung quốc, một người nói đến sự truyền dòng Giáo tông, một người chứng việc truyền dòng Thiền tông vào nước Việt.

Chứng đầu là lời pháp sư Ðàm thiênkể lại một câu chuyện mà sư này nói với vua Tề Cao đế(479 483). Vua Tề khoe với sư rằng mình đã xây dựng chùa tháp khắp mọi nơi, kể cả Giao châu; rồi vua nói thêm rằng: "Xứ Giao châu tuy nội thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị ràng buộc mà thôi. Vậy ta nên chọn các sa môn có danh đức, sai sang đó để giảng hóa. May chi sẽ làm cho tất cả nhân dân được phép Bồ đề. "

Vua Tề tưởng rằng nước ta còn kém về đạo Phật cho nên mới có ý ấy. Nhưng sư Ðàm thiên biết rõ rằng sự thật là trái ngược: nước ta đã được Phật hóa từ lâu, trước cả nước Tề ở vùng Sơn đông nữa. Sư trả lời rằng:

" Xứ Giao châu đường thông với Thiên trúc (Ấn độ). Khi Phật, Pháp chưa tới Giang đông (nước Tề), thì ở Luy lâu (kinh đô Giao chỉ, nay là làng Lũng khê ở phủ Thuận thành tỉnh Bắc ninh), đã có xây hơn hai mươi ngôi chùa, chọn hơn năm trăm vị tăng và tụng mười lăm quyển kinh rồi. Vì đó, mà người ta đã nói rằng Giao châu theo Phật trước chúng ta. Lúc ấy, đã có những vị sư Ma la kê vực, Khang tăng hội, Chí cương lưu chíMâu Bác ở đó. "

Sau đó dẫn lời Ðàm thiên ở trên, sư Trí không còn nói thêm một chứng của sư, là: "Sau đó lại có sư Pháp đắc hiền được Tì ni đa lưu chi truyền tông phái của tổ thứ ba là bồ tát Ðạt ma cho. Sư ấy ở chùa Chúng thiện và dạy hơn 300 đệ tử. "

Chứng thứ hai là thuộc về dòng Thiền tông. Sư Trí không viện lời Quyền Ðức Dư, là viên tể tướng đời Ðường, về cuối thế kỷ thứ tám. Ðức Dư đã viết trong tựa sách Truyền pháprằng: " Sau khi Tào khêmất, phép Thiền rất thịnh, và dòng Thiền nối dõi không dứt. Có thiền sư Chương Kính Huylà học trò Mã tổ  đi truyền giáo ở các xứ Ngô Việt và có đại sư Vô ngôn thông đi truyền ý phái Bách trượngvà giảng pháp ở xứ Giao châu ".

Ðó là hai chứng mà sư Trí không đã bày trước thái hậu. Ta có thể tin vào đó chăng? Ông Trần Văn Giáptrong sách BA (3) đã khảo cứu các sách Phật, và đã thấy rằng, tuy những lời của Ðàm thiên kể lại trên không còn thấy trong những sách còn lại, nhưng những nhân vật kể trong đó đều có thật, và còn có chuyện hợp với lời trên. Vả sách TUTA cũng chép lại gốc tích các dòng Thiền, nó chứng thật lời Quyền Ðức Dư, mà nay vẫn thấy trong sách Tàu còn lại.

Trong những nhân vật kể trong lời Trí Không, thì Mâu Báclà xưa nhất. Bác nguyên người Thương ngô, sang Giao châu ở với mẹ, vào khoảng cuối đời Hán Linh đế (năm cuối là 189). Bấy giờ Sĩ Nhiếp coi quận Giao châu. Ðất Giao châu được yên tĩnh, trong khi nước Hán bị loạn; cho nên nhiều người học giỏi chạy sang ở đó. Sự học càng bành trướng ở Giao châu. Mâu Bác ban đầu theo học Ðạo giáo và phép thần tiên. Nhưng vào khoảng năm 194 195, Bác lại theo đạo Phật. (BA)

Xem vậy thì trước Mâu Bác, Phật giáo đã được hành ở Giao châu rồi. Ðạo Phật từ đâu đã vào đất Việt? Có thể từ đất Hán, vì đạo đã vào Hán chừng một trăm năm trước. Nhưng đạo cũng rất có thể từ Ấn độ được theo đường bể đem vào, theo các thuyền buôn đi dọc bờ biển Ấn độ, sang biển Trung hoa. Khi sư Ðàm thiên nói xứ Giao châu đường thông với Thiên trúc, có lẽ sư muốn nói đường thủy. Những người Tây vực, tức là ở vùng tây bắc Ấn độ, đã sang buôn bán dọc bờ biển. Những đồng tiền bạc, tìm thấy ở nội địa trong Nam, chứng tỏ rằng đồng thời với các hoàng đế ở Rome, xứ Tây vực đã có liên lạc với đất Ðông dương. Trong chuyện phật chùa Pháp vân ở Luy lâu, có nói rằng đời Sĩ Nhiếp, đã có hai vị sư Ấn độ, là Kì vựcKhâu đa laqua đó. Những chuyện kể sau sẽ làm ta tin thêm vào thuyết ấy.

3. Ðạo Phật bành trướng

Ba vị sư, mà Ðàm thiên kể tên trên kia, đều là người Ấn độ hay Tây vực (ở xứ Sogdiane) gần phía tây bắc Ấn độ.

Ma la kì vực, tên chữ Phạn là Marajivaka, là người Ấn độ, đến Giao châu, rồi qua Quảng châu. Tới Lạc dương đời Tấn Huệ đế, năm 294. Ông giỏi phù pháp. Sau gặp loạn ở Trung quốc, ông lại trở về Ấn độ.

Khang tăng hộivốn người Tây vực, theo cha buôn ở Giao châu rồi học đạo Phật ở đó. Nguyên người Tây vực mà ở xứ Việt, cho nên ông học giỏi hai thứ tiếng Phạn và Việt. Nhờ đó, ông đã dịch nhiều sách Phật ra Hán văn. Sau đó, ông sang nước Ngô, giảng đạo cho Ngô Tôn Quyền, rồi mất tại nước Ngô vào năm 280.

Còn như Chi cương lương, thì Trần Văn Giáp cho là Cường lương lưu chi chép trong sách Thập nhị du kinh. Tên Phạn của sư là Kalarucitheo Pelliot, hay là Kalganarucitheo Trần Văn Giáp. Vị sư này tới Giao châu vào khoảng năm 255 256, và có dịch kinh Pháp hoa Tam muội.(BA)

Xem mấy thí dụ trên, ta thấy rằng nhiều vị tăng dịch kinh Phật là người Ấn độ hay người Tây vực. Ngoài số những vị đã do đường bộ tới Trung quốc, một số đã đi đường bể. Những vị này tất nhiên phải học Hán tự. Các vị ấy chắc phần lớn đã qua và ở đất Giao. Vì thế, đạo Phật rất có thể đã tới nước ta trước khi đến nước Trung quốc.

Cho đến sư Ðàm thiên, cũng là người Indoscythe, ở phía tây bắc Ấn độ. Sư rất giỏi Hán văn. Sở dĩ sư lại rõ tình hình Phật giáo ở Giao châu, chắc vì cũng có thời kì qua ở đó.

Lịch sử Phật giáo ở nước ta, từ ban đầu đến lúc phái Thiền tông xuất hiện, không được biết rõ nữa, vì không ai biên chép lại. Về Thiền tông, thì sách TUTA còn chép khá kĩ càng.

Dòng Thiền tông lại có hai phái: phái Nam phương và phái Quan bích. Phái Nam phương vào trước, phái Quan bích vào sau. Nhưng từ đời Ðinh, hai phái đều phát triển một cách thịnh vượng.

Tổ phái NAM PHƯƠNG  là Tì ni đa lưu chi, tên Phạn là Vinitaruci, nguyên người Thiên trúc, hoặc đạo Bà la môn (Braman). Sau theo Phật giáo, rồi sang các xứ đông nam để tới Tràng an, kinh đô nước Trần bên Trung quốc (573). Sau, sư tới Quảng châu; ở đó sáu năm dịch các kinh Phật. Tháng ba năm Canh tý 580, sư sang Giao châu, tới trụ trì ở chùa Pháp vân tại Luy châu. đó được mười lăm năm. Ðến năm Giáp dần 594, đời Tùy Khai hoàng, mới mất.

Ðệ tử Vinitaruci có sư Pháp hiền, mà sách TUTA đã chép ra Pháp đắc hiền, trong chuyện quốc sư Thông biện. Vị này được coi như là tổ thứ nhất của dòng Nam Phương. Sư người Chu Diên, họ Ðỗ; ở chùa Chúng Thiện, tại núi Thiên Phúc, hạt Tiên Du. Sư có rất nhiều học trò. Thứ sử Lưu Phương mời tới Luy Lâu, ở chùa Pháp Vân. Rồi đi giảng đạo, dựng chùa khắp mọi nơi ở Phong Châu (Sơn Tây), Hoan Châu (Nghệ An) Tràng Châu (Ninh Bình) và Ái Châu (Thanh Hóa). Ðến năm Bính Tuất 626, đời Ðường Vũ Đức, mới mất. (TUTA 44a).

Nhờ đó, phái Nam Phương rất được phát đạt, và đã bành trướng nhất trong vùng phủ Từ sơn. Có sư Ðịnh không, là tổ thứ tám, lập chùa ở làng Dịch bảng, là quê nhà Lý về sau (trước 808). Sau đó phái Nam phương có nhiều can hệ với các triều đại độc lập ở nước ta. Sư Pháp thuận giúp Lê Ðại Hành, sư Vạn Hạnhgiúp Lý Thái Tổ, sư  Ðạo Hạnhmà tục truyền là tiền thân của Lý Thần Tông, sư Minh Không giúp Lý Thần Tông, đều thuộc phái này cả.

Phái QUAN BÍCHthì đến đời Ðường Nguyên hòa mới vào nước ta, do vị sư người Ðường là Vô ngôn thông đem tới. Sư người Quảng Châu, họ Trịnh. Sau khi đi học với Mã tổ ở Giang tây, sư về Quảng Châu. Sư sang Giao Châu, năm canh tý 820; ở chùa Kiến sơ, tại Phù đồng (TUTA 4a). Phái này phát đạt cũng chóng và đã phát ra nhiều vị cao tăng còn để tiếng về sau. Sư Khuông việt  giúp Ðinh Tiên Hoàng, sư Trí Khôngtức là Thông biện quốc sư, sư Khổng Lồ, sư Giác Hảiđều thuộc phái này cả.

Không những ở chung quanh kinh kỳ đạo Phật thịnh hành, mà đến những chốn xa, như Ái châu, Phật giáo trong đời Ðường cũng đã phát đạt. Trong các vị tăng quê nước ta đã từng đi Thiên trúc cầu đạo (3), có hai vị người Ái châu, là Trí hànhÐại thặng đăng. (BA). Vả bia HN (4) cũng cho ta biết rằng về đời thuộc Hậu Đường (923 937), châu mục Lê Lương ở Ái châu có dựng ba chùa ở trong hạt ấy.

Tuy đạo được thịnh hành, nhưng nước ta bấy giờ vẫn còn bị người Tàu thống trị. Cho nên Phật giáo, cũng như các ngành tư tưởng khác, hình như cũng chỉ đạt đến một hạng người quyền quí, hay gần gũi người ngoại quốc cầm quyền, chứ không phổ cập đến dân gian. Phải đợi đến thời kỳ độc lập, mới bắt đầu có những chứng rằng Phật giáo có tổ chức và ăn sâu vào dân chúng.

4. Chế độ tăng và chùa

Trong khi các nước ở Trung quốc phải đương đầu với Tống trong cuộc chiến tranh thống nhất, thì ở nước Giao chỉ, tông giáo cũng như hành chính, dần dần tự cởi dây ràng buộc, và trở nên tự trị. Các phái Thiền tông phát đạt, và tăng đồ càng bành trướng ảnh hưởng trong xã hội.

Kẻ cầm quyền không những cần đến thiền sư về phương diện tín ngưỡng mà tôi, mà cả về phương diện chính trị, cũng cần nữa. Nhất là trong đời Ðinh Lê, các vua đều là những bậc võ biền, nhân loạn mà nắm được chính quyền. Học thức vua ít; mà kẻ nho học cũng chưa đông, và phần nhiều chắc có lòng trung thành với triều đại bị tiếm, nên không được tin dùng. Chỉ có kẻ tăng đồ có đủ thì giờ, đủ phương tiện sinh sống để đọc nhiều, hiểu rộng. Vả nhà tu hành lại ít có thành kiến thiên vị về chính trị, cho nên dễ được vua mới tin dùng.

Lúc nhà Ðinh mới lập nước, liền trọng đãi các nhà sư. Năm đầu sau khi lên ngôi, Ðinh Tiên hoàng đã định phẩm hàm và giai cấp cho các nhà tăng và đạo. Tăng và đạo cũng được coi như là những công chức văn võ (TT 961) (5). Tuy đời Lý, cũng có đặt lại phẩm hàm và giai cấp cho tăng đạo, nhưng vẫn theo qui chế đời Ðinh.

Ðầu hàng Tăng, có chức Quốc sư. Sau, theo thứ tự trên dưới, có những chức tăng thống, tăng lục, tăng chính, đại hiền quan. Quốc sư chỉ có nghĩa là người sư của nước, chứ không phải là chức tể tướng như vị thái sư. Cũng như các chức kia, quốc sư coi việc giữ các chùa trong nước, giảng đạo, lập đàn, và giúp vua trong những việc cầu may, cầu phúc.

Ngoài những chức phẩm trên, ta còn nhận thấy những hiệu như đại sư, trưởng lão, cư sĩ (Bia LX, TUTA). Có lẽ đó chỉ là huy hiệu mà thôi.

Chùa thì do vua, quan hay dân làng xây dựng lên. Những chỗ danh lam thì chắc thuộc nhà vua và được vua cấp tiền của, ruộng đất, phu hầu. Năm 1088, Lý Nhân tông định chia chùa làm ba hạng, đại, trung và tiểu danh lam, do các quan văn và quí chức đề cử. Sách TT chép việc ấy, và thêm rằng: " Ấy vì bấy giờ, các chùa có điền nô và của kho ". Ðiền nô là phu cày ruộng cho chùa.

Ở các trấn, cũng có tăng quan coi các chùa và phật giáo. Sư Hải Chiếucó nói trong bia LX rằng sư " kiêm coi công sự ở Thanh hóa ", và là " thuộc hạ " của Lý Thường Kiệt.

Ðược làm sư không những là một vinh hạnh. Sư có chức phận đã đành, mà về phần vật chất, lại khỏi bị bắt làm xâu, làm lính; ở chùa lại được bổng lộc dân chúng cúng và vua ban. Vì thế muốn được làm sư, phải có bằng của nhà nước cấp cho. Như thế, gọi là được độ. Sử sách ta còn chép một vài năm, vua chọn dân để cho làm sư. Năm 1014, tăng thống Thẩm Văn Uyển xin lập giới trường ở chùa Vạn Thọ trong thành Thăng Long để cho tăng đồ thụ giới. Năm 1016, vua chọn hơn nghìn người ở Kinh sư để cho làm tăng và đạo sĩ. Năm 1019, Lý Thái Tổ lại độ dân khắp nước để làm tăng. Sau mãi đến năm 1134, Lý Thần Tông mới sai hội dân ở đài Nghinh Tiên để độ tăng một lần nữa. (TT).

Ðó là những cơ hội lớn chọn tăng một cách tập đoàn. Còn hàng ngày, vẫn cấp bằng cho những trai tráng được rút tên ra ngoài sổ bạ (Bia LX). Ðồng thời ở Tống, bằng cấp độ tăng lại là một lợi khí làm tiền cho công quĩ. Sách TB (6) thường chép rằng vua Tống cấp cho các lộ một số lớn bằng cấp ấy, để hưng công xây thành, đào sông. Không biết ở triều Lý có lợi dụng sự độ tăng như thế không. Nhưng ta biết rằng nhà nước có dùng cách ấy để thưởng một hạng người có công. Như năm 1128, Lý Thần Tông sai chọn bốn người lính già, cho làm tăng (TT).

Con cháu những nhà quyền quí cũng không ngần ngại bỏ nhà theo Phật giáo, như các cháu họ Lý Thường Kiệt (bia LX), sư Mãn giáccon Lý Hoài Tố, Diệu nhân ni sưcon nuôi Lý Thánh Tông và sư Viên Chiếucháu thái hậu Linh Nhân.

Xem chuyện các cao tăng trong sách TUTA, ta thấy phần nhiều các vị này giỏi nho học, hay khi bé thường học Nho rồi sau mới theo Phật. Nhưng trong khoảng đầu đời Lý, chưa mở khoa thi nho. Sau, dần dần nho học tiến mạnh. Tam giáo tịnh hành. Các khoa thi nho được mở đều, và các khoa thi tam giáo cũng được lập vào cuối đời Lý Cao Tông (năm 1179 và 1194, TT). Các nho thần như Ðàm Dĩ Mông đã bắt đầu kiềm chế tăng đồ, kiểm điểm khảo hạch tăng chúng. Năm 1179, Lý Cao Tông sai thi các đệ tử tăng quan tụng kinh Bát nhạ (TT).

Nhân các vua trước, như Thần Tông, Anh Tông mê đạo nhiều dân đinh xin độ làm tăng để trốn khỏi dao dịch. Lại có những ác tăng làm điều phạm pháp. Cho nên năm 1198, Ðàm Dĩ Mông nói với vua rằng: " Bây giờ, tăng đồ gần bằng số dịch phu. Chúng tự kết bè, bầu chủ, họp nhau thành từng bầy. Chúng làm nhiều việc bẩn thỉu. Hoặc ở nơi giới trường, tĩnh xá, mà công nhiên rượu thịt; hoặc ở trong trai phòng tĩnh viện, mà âm thầm gian dâm. Ngày ẩn, tối ra, thật như đàn cáo chuột. Chúng làm bại tục, thương giáo; dần dần thành thói quen. Nếu mà không cấm, thì lâu thành quá lắm. "

Vua Cao tông cho lời Dĩ Mông nói là phải. Sai Dĩ Mông triệu tập tăng đồ trong xứ lại ở các nơi cốc xá; chọn từng mười người có tiếng, lưu lại làm tăng. Còn dư, thì đánh dấu vào tay mà bắt hoàn tục.

Chắc rằng lời Dĩ Mông quá đáng, và sự sa thải triệt để tăng đồ là một phần do nho gia bài xích dị đoan. Tuy vậy, đạo Phật không phải vì đó mà suy. Trạng nguyên Lê Quát, là dòng dõi Lê Văn Thịnh, phải phàn nàn, trong bia chùa Thiệu phúc dựng đời Trần, rằng: " Làng xóm nào cũng có chùa, mà không đâu thấy thờ Khổng thánh. "

Chú thích

(*) Trích từ: "Lý Thường Kiệt" của Hoàng Xuân Hãn, nhà xuất bản Sông Nhị, Hà nội, 1949.
(1) TUTA : Thiền uyển tập anh ngự lục (Trần)
(2) BA : Bia chùa Báo ân (Lý)
(3) Theo T.V.Giáp, các vị tăng đã qua Ấn độ là: Vận kỳ, người Giao châu, Mộc soa đề ba (Moksadeva) người Giao châu, Khuy xung người Giao châu (mất ở Thiên trúc), Tuệ diệm người Ái châu (ở lại Thiên trúc), Trí hạnh người Ái châu (mất ở bắc ngạn sông Hằng hà), Ðại thặng đăng người Ái châu (mất ở Ấn độ).3.
(4) HN Bia chùa Hương nghiêm (Lý)
(5) TT Ðại việt sử ký toàn thư. Ngô Sĩ Liên (Lê)
(6) TB Tục tư trị thông giám trường biên. Lý Ðào (Tống)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.