Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/07/2006 23:50 (GMT+7)

Đánh giá định lượng tỷ lệ lao động tri thức trong nền kinh tế Việt Nam

Phương pháp

Sự xuất hiện của kinh tế tri thức đã được chỉ ra lần đầu tiên vào năm 1962 từ những nghiên cứu của Fritz Machlup về tỷ lệ lao động và sản phẩm gắn liền một cách chủ yếu với tri thức trong nền kinh tế nước Mỹ, cụ thể là các hoạt động: Nghiên cứu khoa học (cơ bản, ứng dụng) và triển khai; giáo dục và đào tạo (kể cả đào tạo tiếp tục và đào tạo lại); thông tin đại chúng (xuất bản, báo chí, truyền thanh, truyền hình...).

Điều đáng chú ý nhất là không phải bản thân giá trị của các chỉ tiêu lao động tri thức và sản phẩm tri thức mà chính là sự gia tăng của các chỉ tiêu đó nhanh gấp hai lần so với sự gia tăng của GNP, chứng tỏ các hoạt động gắn liền với tri thức có xu hướng ngày càng trở nên quan trọng hơn trong nền kinh tế. Các hoạt động đó tạo thành một khu vực công nghiệp mà Machlup gọi là công nghiệp tri thức.

Công trình đo lường kinh tế tri thức đáng chú ý sau đó là của Marc Porat (1974-1976), trong đó xét các chỉ tiêu lao động và sản phẩm trên phạm vi toàn quốc và đối với tất cả các hoạt động xử lý thông tin. Các hoạt động này tạo thành khu vực thông tin của nền kinh tế mà đối với nước Mỹ vào khoảng năm 1970 chiếm chừng một nửa về lao động cũng như về sản phẩm. Do xét chung "xử lý thông tin" chứ không phải "tri thức", khu vực được gọi là thông tin của nền kinh tế đã bao gồm một phần rất lớn các hoạt động dịch vụ đơn thuần như bán hàng, phục vụ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ tài chính... và do đó trở nên quá lớn nếu chúng ta chỉ muốn nói đến “kinh tế tri thức”. Việc xét chung này còn dẫn đến tình trạng không phân biệt được sự gia tăng nạn quan liêu giấy tờ với sự gia tăng các hoạt động xử lý thông tin theo nghĩa tiến bộ. Theo W.E. Halal (Technological Forecasting and Social Change - TFSC, 1993), tổng số lao động thuộc khu vực thông tin ở các nước phát triển cao được đánh giá là 70%, nếu bỏ đi những lao động dịch vụ đơn thuần để còn lại chỉ là lao động tri thức thì chỉ là 30% (tổng số lao động cả nước). Tuy nhiên, do đơn giản khi áp dụng mà vẫn tạo ra được một hình ảnh có ý nghĩa về độ lớn và nhịp độ phát triển của nền kinh tế theo hướng tiến đến kinh tế tri thức, phương pháp "khu vực thông tin" này đã được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng để đánh giá sự phát triển của kinh tế thông tin ở một số nước. Bảng 1 cho biết các số liệu về tỷ lệ (%) lao động thông tin ở một số nước công nghiệp mới được đưa ra trong công trình của R.L. Katz năm 1988 (dẫn theo D.-J. Kim, TFSC, 1994).

Năm 1996, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa ra khái niệm "kinh tế dựa trên tri thức" hay "kinh tế tri thức" thể hiện sự thừa nhận rộng rãi trên thế giới về vai trò ngày càng gia tăng của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong kinh tế. Đồng thời, Tổ chức này đã đưa ra một bộ chỉ tiêu đặc trưng cho kinh tế tri thức, song cũng lưu ý ngay từ đầu rằng, nó chỉ có thể cung cấp một cái nhìn bộ phận về thực thể kinh tế này: Chúng chưa chỉ ra được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố xác định kinh tế tri thức và chưa được sắp xếp có thứ bậc để làm rõ mức độ quan trọng khác nhau của các nhân tố đó. Theo một báo cáo năm 1999, bộ chỉ tiêu đó gồm các nhóm nhân tố (theo sự tổng hợp của chúng tôi): Các ngành dựa trên tri thức, đầu tư cho sản xuất tri thức, chất lượng nguồn lực con người, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN).

Còn Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) trong một báo cáo cuối năm 2000, đã đưa ra một tập hợp chỉ tiêu cho phép đánh giá tất cả các nền kinh tế theo xu hướng tiến đến kinh tế tri thức chứ không chỉ là quy mô của những nền kinh tế tri thức đã xuất hiện và đang phát triển. Các chỉ tiêu này được sắp xếp thành một ma trận mà qua đó chúng ta có thể thấy (ở một mức độ nào đó) tính hệ thống của các chỉ tiêu và mối liên kết giữa chúng (hơn là bộ chỉ tiêu của OECD) (bảng 2).

Trong số các chỉ tiêu đã nêu, cốt yếu nhất là các chỉ tiêu về cường độ tri thức cho phép đo trực tiếp mức độ thành đạt về kinh tế tri thức (đã tồn tại hay đang tiến đến) của một quốc gia. Trong đó, có hai chỉ tiêu cơ bản là: Số phần trăm tổng lao động quốc gia là lao động tri thức; số phần trăm GDP được đóng góp từ các ngành công nghiệp tri thức. Đây cũng là các chỉ tiêu được xem xét trong phương pháp của Machlup (lao động và sản phẩm của công nghiệp tri thức) và của Porat (ở đây là lao động và sản phẩm xử lý thông tin).

Để xác định đâu là lao động tri thức, APEC đã sử dụng các tiêu chuẩn phân loại nghề nghiệp của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là ISCO-68 (năm 1968) hay ISCO-88 (năm 1988). Phân loại năm 1968 hiện vẫn được sử dụng ở nhiều nước. Phân loại này bao gồm 10 nhóm lớn, trong đó hai nhóm đầu (0/1 và 2) bao gồm tất cả các nghề nghiệp theo APEC là "lao động tri thức" (bảng 3).

Còn các ngành công nghiệp tri thức, theo APEC, bao gồm:

- Một số ngành công nghiệp về bản chất là những ngành nhiều tri thức (ví dụ những ngành chế tạo mà trong đó R&D và thiết kế chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí sản xuất).

- Những ngành công nghiệp nhiều tri thức: Thông tin - truyền thông, hàng không - vũ trụ, môi trường, thiết kế sinh học, cơ - điện tử.

- Những ngành dịch vụ nhiều tri thức: Tài chính, nghe - nhìn, truyền thông, thiết kế, xử lý dữ liệu, tư vấn.

- Có thể bao gồm cả một số hiểu biết cổ truyền và địa phương, các tài sản văn hóa; một số ngành công nghiệp sơ cấp ngày nay bắt đầu sử dụng nhiều tri thức.

Trong bảng 4 là các kết quả tính toán về cường độ tri thức của một số nền kinh tế được xét trong báo cáo của APEC năm 2000, trong đó có một số nước không có đủ số liệu để tính giá trị các sản phẩm công nghiệp tri thức, Trung Quốc chưa có cả hai kết quả về công nghiệp tri thức cũng như về lao động tri thức năm 1992 và khoảng năm 1997; có ghi các kết quả về Việt Nam (trình bày ở cuối bảng).

Kết quả

Suy đoán theo phương pháp tương tự lịch sử

Trong một công trình dự báo về KH&CN Việt Nam đến năm 2020 thực hiện theo yêu cầu của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam năm 1996, chúng tôi đã áp dụng phương pháp tương tự lịch sử, lấy Hàn Quốc làm hệ quy chiếu trên cơ sở khoảng cách về năng lực công nghệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc được xác định là 25 năm (căn cứ vào một số chỉ tiêu phát triển kinh tế, KH&CN: GDP, GDP trên đầu người, đầu tư cho R&D...). Nếu như nhận xét này cũng có thể áp dụng cho khu vực thông tin thì tỷ lệ lao động thông tin trong tổng lực lượng lao động của nước ta vào khoảng năm 2000 có thể suy đoán là khoảng (10,1 + 14,6)/2 = 12,3% dựa trên các số liệu đã biết về Hàn Quốc giới thiệu trong bảng 1. Nếu chúng ta lại tính lao động tri thức thay vì lao động thông tin theo tỷ lệ như Halal đã nêu đối với các nước phát triển cao là 3/7 (chưa kể rằng đối với các nước đang phát triển thì phải nhỏ hơn 3/7) thì tỷ lệ lao động tri thức trong tổng lao động của nước ta hiện nay nhiều nhất là vào khoảng 12,3 x 3/7 5,3%, nghĩa là gần bằng Thái Lan năm 1992 (5,9%) (bảng 4). Những tính toán ít suy đoán hơn và các tính toán trực tiếp (sẽ trình bày dưới đây) cũng cho con số vào cỡ 5%, chứng tỏ những ước tính thô sơ không phải là không có ý nghĩa.

Đánh giá gián tiếp từ các số liệu thống kê hiện có

Hiện tại, chúng ta không có các số liệu thống kê cho phép tiến hành các tính toán trực tiếp về lao động tri thức theo đúng như phân loại nghề nghiệp của ILO cho một thời gian tương đối dài (riêng về hai năm 2001 và 2002 có thể thu được các kết quả tính toán trực tiếp như sẽ trình bày ở dưới). Tuy nhiên, có thể tiến hành các ước tính gián tiếp cho giai đoạn 1996-2002 dựa trên các số liệu về lao động kể từ công nhân kỹ thuật (CNKT) có bằng trở lên theo các tài liệu thống kê của Nhà xuất bản Lao động - Xã hội (bảng 5).

Bảng 5 cho thấy, toàn bộ lực lượng lao động kỹ thuật của ta ở mọi trình độ trong cả nước hiện còn ở mức thấp - khoảng 12,6% vào năm 2002. Khó có khả năng một nửa số này (6,3%) là lao động tri thức. Nếu cho rằng tỷ lệ lao động tri thức trong số đó có thể là khoảng 2/5 thì con số 5% đã suy đoán ở trên theo phương pháp tương tự lịch sử phù hợp với ước tính này. Tổng lao động tri thức năm 2002 suy ra từ đó sẽ là 5.128.149 x 2/5 ð 2 triệu người (thời gian lao động toàn phần). Con số chính xác hơn theo các tính toán trực tiếp trình bày trong mục sau (thật bất ngờ), cũng vào cỡ như vậy (có nghĩa là tỷ lệ để từ lao động là CNKT có bằng trở lên suy ra lao động tri thức có thể lấy là 2/5).

Đánh giá trực tiếp tỷ lệ lao động tri thức trong tổng lực lượng lao động của cả nước

Từ các tài liệu thống kê mới nhất về lao động - việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có được (2 năm 2001 và 2002), có thể dựng lên "Ma trận ngành kinh tế quốc dân - trình độ chuyên môn kỹ thuật" dùng để đánh giá định lượng tỷ lệ lao động tri thức trong tổng lực lượng lao động của Việt Nam theo phương pháp của APEC.

Theo cách tiếp cận của APEC, ta sẽ sử dụng phân loại nghề nghiệp của ILO (năm 1968) và lấy các loại lao động trong nhóm lớn 0/1 và nhóm lớn 2 là "lao động tri thức" (xem bảng 3). Vì phân loại nghề nghiệp của ta hiện nay theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội không giống như phân loại của ILO, cho nên để tiến hành các tính toán, trước hết chúng ta phải xác định sự tương ứng giữa hai cách phân loại, sau đó chỉ ra những phần cần bổ sung do sự sai khác giữa hai cách phân loại để tăng thêm độ chính xác của các kết quả tính toán cuối cùng (khi nói độ chính xác, ta ngầm hiểu cách tiếp cận của APEC được xem là "chính xác"). Các tính toán chi tiết đã tiến hành đưa đến con số trực tiếp gần đúng có thể chấp nhận được về tỷ lệ lao động tri thức trong tổng lực lượng lao động của cả nước năm 2001 là khoảng 4,9% và năm 2002 là khoảng 5%, giống như đã ước tính theo cách tương tự lịch sử hay sử dụng gián tiếp các lao động từ CNKT có bằng trở lên. Tổng lao động tri thức của cả nước vào thời gian này là khoảng 2 triệu người (thời gian lao động toàn phần).

Một số nhận xét

• Có thể thấy rất rõ là lao động có kỹ thuật (và tương ứng là lao động tri thức) được tập trung ở mức cao tại các thành phố lớn (ban đầu là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và gần đây có thêm Đà Nẵng). Trong khi đó, tỷ lệ của loại lao động này trên toàn quốc lại tăng chậm - chỉ thêm được 4% trong 6 năm; nếu là lao động tri thức thì trong hai năm liền 2001 và 2002 không thay đổi. Vì nhu cầu về loại lao động này đang tăng nhanh mà khả năng cung cấp lại tăng chậm, thậm chí không tăng đối với lao động tri thức vào thời gian gần đây, cho nên các trung tâm kinh tế - văn hóa lớn đã hút người có kỹ thuật từ các nơi khác và như vậy phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi bị hút người đi chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực nếu như chúng ta đã công nhận rằng tri thức phải có vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển. Tăng cường đào tạo lao động có kỹ thuật và mở rộng hơn nữa các hoạt động KH&CN, y tế, văn hóa, giáo dục rõ ràng phải là một nhiệm vụ lớn trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến đến kinh tế tri thức. Đối tượng được chú ý trong việc đào tạo này phải là đông đảo người lao động từ tất cả các cơ sở sản xuất (hiện có tới 80% tổng lao động toàn quốc là không có chuyên môn kỹ thuật) chứ không thể chỉ tập trung vào những trình độ cao và thật cao.

• Chúng ta có thể tính ra tương đối chính xác tỷ lệ lao động tri thức trong tổng lực lượng lao động cả nước cho bất kỳ tỉnh, thành phố nào và vào một năm nào đó bằng cách lấy số liệu về tỷ lệ lao động từ CNKT có bằng trở lên trong các tài liệu thống kê về lao động - việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhân với 2/5 n

Tài liệu tham khảo

1. Kinh tế tri thức, Đặng Mộng Lân. Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2001 (tái bản 2002).

2. Các chuyên đề 1-4, Đề tài KX.08.02 (Chủ nhiệm đề tài: GS Vũ Đình Cự), Hà Nội, 2004 (đã nghiệm thu năm 2005).

Nguồn: tchdkh.org.vn, tháng 06/2006

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.