Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/07/2014 19:25 (GMT+7)

Đánh giá các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam

  Mỗi quốc gia đều có phương pháp riêng trong việc tổ chức đánh giá các tổ chức nghiên cứu của họ. Một vài quốc gia ưu tiên đánh giá trên quy mô rộng, một số khác lại không muốn đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực vào công việc này. Nhìn chung, những phương pháp tốn ít công sức không cung cấp được nhiều thông tin có độ tin cậy cao về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải thiện và những tiềm năng của tổ chức nghiên cứu. Những phương pháp đòi hỏi nhiều công sức, nguồn lực, và thời gian đánh giá thường đem lại thông tin đáng tin cậy hơn và đầy đủ hơn về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải tiến và tiềm năng của tổ chức.

Lựa chọn phương pháp đánh giá tổ chức nghiên cứu 

Phương pháp bình duyệt (peer review): những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu của một tổ chức nghiên cứu sẽ đến thăm tổ chức từ 1-3 ngày. Trước đó tổ chức phải chuẩn bị tất cả các dữ liệu cần thiết. Hai bên sẽ thảo luận về chiến lược KH&CN, cách thức hoạt động, quản lí, kết quả hoạt động, v.v, của tổ chức. Thông tin và kết luận từ buổi làm việc là cơ sở để nhóm bình duyệt chuẩn bị một bản báo cáo đánh giá bao gồm các nội dung thu thập được và những ý kiến đánh giá. Lợi thế của phương pháp này là tốn ít thời gian và cơ quan đánh giá tận dụng được kiến thức của các chuyên gia. Tuy nhiên, các chuyên gia phải là người có kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực được đánh giá. Do phương pháp này thường không áp dụng đánh giá định lượng nên không thể xếp hạng các tổ chức theo thứ tự.

Có 2 cách để tổ chức bình duyệt. Cách thứ nhất là mỗi lần tổ chức bình duyệt thì mời các chuyên gia khác nhau tham gia thực hiện. Tuy nhiên, những tổ chức như Hiệp hội Max-Planck lại có xu hướng thành lập các ủy ban tư vấn đánh giá là những chuyên gia cố định, thường xuyên tham gia các buổi đánh giá định kỳ. Lợi ích của việc mời chuyên gia cố định là các thành viên sẽ hiểu rõ hơn về các viện và có điều kiện để xem xét các khuyến nghị từ những lần đánh giá trước đó đã được thực hiện hiệu quả như thế nào.

Ở Đức, không có một quy định nào của Nhà nước về đánh giá viện nghiên cứu. Mỗi tổ chức nghiên cứu lựa chọn phương pháp đánh giá riêng cho mình.
Một ví dụ điển hình là tổ chức nghiên cứu cơ bản hàng đầu ở Đức, MaxPlanck-Society, với hơn 80 viện và ngân sách năm 2011 đạt hơn 1,7 tỉ Euro. Để đánh giá liên tục hiệu quả hoạt động khoa học của các viện thuộc tổ chức này, mỗi năm có khoảng 35-40 cuộc bình duyệt được triển khai. Những cuộc bình duyệt này được thực hiện bởi hội đồng khoa học bao gồm các chuyên gia được mời từ bên ngoài, được thiết lập cho mỗi viện. Các hội đồng khoa học đến thăm và đánh giá hoạt động của các viện. Để chuẩn bị cho những buổi đánh giá tại chỗ, viện phải chuẩn bị một bản báo cáo tình hình cụ thể, miêu tả các chiến lược và kết quả hoạt động khoa học, cơ sở hạ tầng, tình hình nguồn nhân lực của viện, cung cấp tài liệu chi tiết.

Phương pháp đánh giá audit (evaluation audit): là phương pháp sử dụng đội ngũ các chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp thực hiện đánh giá. Loại đánh giá này sử dụng các phương pháp luận đánh giá tiêu chuẩn cao cùng với các bảng câu hỏi, bộ dữ liệu, báo cáo phân tích và các mẫu biểu để thuyết trình về kết quả đánh giá. Lợi ích của phương pháp này là không tốn nhiều công sức nhưng đưa lại kết quả có độ tin cậy, cho phép đo lường, so sánh hiệu quả làm việc giữa các viện khác nhau.

Phương pháp tự đánh giá (self-assessment): Các tổ chức được cung cấp một mẫu hướng dẫn tự đánh giá và hoàn thiện mẫu này, đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết để chứng minh cho những đánh giá mà tổ chứcđưa ra. Lợi ích của phương pháp này là không tốn nhiều công sức của cơ quan đánh giá, tuy nhiên kết quả thu được chỉ thực sự hữu ích khi tổ chức cung cấp thông tin đáng tin cậy và thực hiện tự đánh giá một cách nghiêm túc.

Hai tiêu chuẩn – chín yếu tố

Cách thức quản lý các tổ chức nghiên cứu và cấu trúc KH&CN của Việt Nam khác với các nước phương Tây nên để phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, những phương pháp này cần phải được điều chỉnh cho phù hợp, ví dụ: rất nhiều dữ liệu được sử dụng để đánh giá ở các nước phát triển không phù hợp khi áp dụng ở Việt Nam. Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý ở các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia đánh giá và các bên liên quan khác cần thời gian để làm quen với phương pháp đánh giá và học cách áp dụng công cụ này một cách hiệu quả.

Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ  đã phân tích các phương pháp luận được sử dụng ở các quốc gia khác và phối hợp với các chuyên gia CHLB Đức xây dựng  phương pháp đánh giá và thực hiện đánh giá thí điểm bốn tổ chức nghiên cứu đầu tiên trong năm 2013. Kết quả thực tiễn cho thấy Việt Nam không thể lặp lại bất kì một phương pháp luận đánh giá nào của các nước khác, mà cần phải có phương pháp luận riêng của mình. Phương pháp luận đó phải đáp ứng được những điều kiện sau: 1) Có tính thực tế, đơn giản và dễ thực hiện; 2) Phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội, khung hành chính và chính trị của Việt Nam. Do vậy, Viện đã xây dựng phương pháp luận dựa trên ý tưởng một tổ chức nghiên cứu hoạt động hiệu quả phải đạt được chín yếu tố thành công. Nếu một tổ chức hoàn thành tốt tất cả các yếu tố đó, tổ chức có kết quả hoạt động tốt, tạo ra những kết quả có giá trị, có chiến lược và nguồn lực mạnh. Mức độ đạt được của chín yếu tố thành công này được đo lường theo các tiêu chí cụ thể. Kết quả của tất cả các tiêu chí được tổng hợp và đưa ra một thang đo hiệu quả  hoạt động tổng thể của tổ chức. Phương pháp này cho phép nhận định những điểm mạnh, điểm yếu, yêu cầu cải tiến, nhưng đồng thời cũng cho phép đo lường định lượng hiệu quả hoạt động  và so sánh với các tổ chức khác, chín yếu tố cụ thể như sau.


Chiến lược phát triển 

Mục tiêu là đánh giá liệu tổ chức có làm đúng các nhiệm vụ nghiên cứu không, có tổ chức thực hiện một cách hệ thống để phát huy hết khả năng, năng lực và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả không? Tổ chức được đánh giá phải trình bày các tài liệu, văn bản giải thích chiến lược nghiên cứu và các kế hoạch phát triển năng lực, tiềm lực của tổ chức. Các chuyên gia sẽ xem xét chiến lược này để thẩm định tính hợp lý và khả thi.

Hiệu quả hoạt động và đầu ra nghiên cứu khoa học

Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có tạo ra các kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị không. Tiêu chuẩn quốc tế  đo lường các kết quả này là các ấn phẩm khoa học và sự công nhận từ các nhà nghiên cứu khác (ví dụ: bằng sự trích dẫn).

Hiệu quả hoạt động và đầu ra công nghệ

Mục đích là đánh giá xem tổ chức có tạo ra  những công nghệ có giá trị và hữu ích đối với kinh tế và xã hội không, hay có chuyển giao những công nghệ đó một cách hiệu quả và thương mại hóa chúng thành công không. Với những quốc gia có hệ thống KHCN phát triển, thường thì số bằng sáng chế của tổ chức được sử dụng để đánh giá đầu ra công nghệ. Nhưng cách đánh giá này không thể sử dụng được ở Việt Nam, vì số bằng sáng chế được đăng ký ở Việt Nam vẫn còn rất ít, và các nhà nghiên cứu thường không đăng ký bằng sáng chế cho sáng chế của mình. Vì thế cần xem xét thêm các dữ liệu khác, như nguồn thu mà tổ chức đạt được hằng năm từ việc bán hay cấp phép công nghệ của tổ chức đó (bởi vì chỉ khi nào tổ chức tạo ra nhiều công nghệ và có giá trị cao mới có thể tìm được khách hàng sẵn sàng chi trả).

Dịch vụ KH&CN 

Mục đích là để đánh giá liệu tổ chức có cung cấp các dịch vụ có giá trị dựa trên năng lực chuyên môn của mình, ví dụ như kiểm tra và đo lường các dịch vụ kỹ thuật, đề xuất các giải pháp hoặc ý kiến tư vấn (một loại dịch vụ KH&CN điển hình là tư vấn cho các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách), v.v. Cách đánh giá đơn giản các dịch vụ KH&CN của tổ chức, ví dụ là số lượng và loại hình dịch vụ đã cung cấp (tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách, tư vấn cho các doanh nghiệp, v.v…) và/hoặc thu nhập hằng năm từ các dịch vụ như vậy.

Đào tạo, giảng dạy

Mục đích là đánh giá xem tổ chức có thực hiện công tác đào tạo (thường là đào tạo sau đại học) cho sinh viên và/hoặc tổ chức các khóa đào tạo cho các bên liên quan khác (ví dụ như cho lãnh đạo doanh nghiệp hay chính phủ). Cách đánh giá là xem xét số lượng học viên là nghiên cứu sinh Thạc sĩ và Tiến sĩ đang được đào tạo, số lượng tốt nghiệp hằng năm, số lượng khóa đào tạo và/hoặc các cán bộ đã qua đào tạo.

Nguồn nhân lực 

Mục đích là để đánh giá xem đội ngũ cán bộ khoa học của tổ chức có đủ năng lực, kiến thức khoa học và trình độ cần thiết để tiến hành các nghiên cứu hiện đại hay không. Một phương pháp đánh giá điển hình trình độ của cán bộ là bằng cấp được chứng nhận (ví dụ như % Tiến sĩ và Thạc sĩ, % cán bộ tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng ở nước ngoài, v.v…). Phương pháp đánh giá cơ cấu nguồn nhân lực là xem xét tỉ lệ của Giáo sư,  Phó giáo sư, Tiến sĩ và Thạc sĩ, tỉ lệ cán bộ làm nghiên cứu trên tổng số cán bộ và độ tuổi của họ…

Trang thiết bị khoa học và cơ sở hạ tầng

Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có những trang thiết bị khoa học hiện đại cần thiết để thực hiện các nghiên cứu tiên tiến nhất và liệu cơ sở hạ tầng khoa học của tổ chức (ví dụ như phòng thí nghiệm, thông tin, tài liệu khoa học…) và cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị, vv…) có đầy đủ không. Điều này có thể được đánh giá tốt nhất bởi những nhà khoa học cùng ngành. Các chỉ số hữu ích để đánh giá bao gồm tuổi thọ trung bình của thiết bị, khấu hao hằng năm, kinh phí để duy trì bảo dưỡng  hoặc hiện đại hóa trang thiết bị.

Tài chính

Mục đích là đánh giá xem nguồn kinh phí của tổ chức có đủ để thực hiện các nhiệm vụ và cơ cấu kinh phí có phù hợp không (ví dụ: tổ chức có được đảm bảo kinh phí chi thường xuyên, có tạo được nguồn thu từ các đề tài, dự án, từ việc chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ không, v.v…?)

Ai thực hiện việc đánh giá?
Một số quốc gia thành lập các tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp, ví dụ như Trung tâm đánh giá KH&CN Trung Quốc - NCSTE hay Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp - AERES. Một số tổ chức nghiên cứu cũng đã thành lập các đơn vị của riêng mình chuyên trách việc đánh giá, ví dụ đơn vị đánh giá thuộc Viện Nghiên cứu khoa học công nghiệp và công nghệ cao quốc gia Nhật Bản (AIST), tuy nhiên các đơn vị chuyên trách này cũng thường xuyên mời các chuyên gia bên ngoài tham gia đánh giá để đảm bảo tính công bằng, khách quan.


Hợp tác và quốc tế hóa 

Mục đích là đánh giá xem tổ chức có hợp tác đầy đủ với các nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam và nước ngoài, có tham gia thực hiện các dự án nghiên cứu cũng như trao đổi với các nhà nghiên cứu quốc tế để hoàn thiện nghiên cứu không. Cũng cần xem xét liệu tổ chức có hợp tác hiệu quả với những người sử dụng kết quả nghiên cứu (ví dụ với các doanh nghiệp) để đảm bảo rằng kết quả nghiên cứu là hữu ích và chúng được chuyển giao thành công không. Các phương pháp điển hình để đánh giá mức độ hợp tác của tổ chức bao gồm số lượng và mức độ của sự hợp tác với các nhà nghiên cứu khác (đánh giá theo mức độ hợp tác: các thỏa thuận chính thức và các dự án hợp tác có tầm quan trọng cao hơn những cuộc thăm viếng ngắn hạn), số lượng và quy mô của của các thỏa thuận hợp tác chính thức với các doanh nghiệp, v.v… Phương pháp điển hình đánh giá mức độ quốc tế hóa của tổ chức là số lượng và thời gian làm việc của cán bộ thuộc tổ chức tại các viện nghiên cứu ở nước ngoài hoặc của các nhà nghiên cứu nước ngoài làm việc tại tổ chức, nguồn thu đạt được từ các dự án quốc tế hằng năm, thành viên các hiệp hội và mạng lưới nghiên cứu quốc tế,…

Về cơ bản, chín yếu tố kể trên có thể được sử dụng để đánh giá tất cả các loại hình tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên, khi áp dụng cần phải điều chỉnh phù hợp với từng loại tổ chức dựa trên bản chất hoạt động và lĩnh vực nghiên cứu của họ. Ví dụ, nếu đánh giá tổ chức nghiên cứu cơ bản, kết quả nghiên cứu khoa học là đầu ra quan trọng nhất, nhưng đối với tổ chức nghiên cứu ứng dụng thì cần chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ mới và nguồn thu từ việc thương mại hóa chúng.


Quy trình triển khai

Để đánh giá chín yếu tố kể trên, chúng ta sẽ sử dụng nhiều tiêu chí, bao gồm cả định tính và định lượng.

Đánh giá định lượng được sử dụng để đo lường việc đáp ứng các tiêu chí bằng cách tính điểm. Các tổ chức nghiên cứu được đánh giá theo thang điểm từ 1 (là khi kết quả hoạt động kém, không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ) tới 5 (là khi kết quả hoạt động xuất sắc, có thể so sánh với đẳng cấp cao của thế giới)

Tổng điểm của tổ chức được tính bằng cách cộng trung bình điểm đạt được của chín yếu tố được đánh giá. Để tính toán theo tầm quan trọng khác nhau, điểm số của từng yếu tố được tính theo trọng số. Trọng số này khác nhau đối với từng loại viện khác nhau, ví dụ: với tổ chức nghiên cứu cơ bản, đầu ra khoa học (ấn phẩm khoa học) có trọng số cao nhất, nhưng với tổ chức nghiên cứu ứng dụng, đầu ra công nghệ (sáng chế) có trọng số cao nhất.

Đánh giá định tính được thực hiện khi chuyên gia đánh giá đưa ra những bình luận để giải thích điểm mạnh, điểm yếu và yêu cầu cải thiện cho từng lĩnh vực đánh giá. Những giải thích định tính này rất quan trọng với ban lãnh đạo tổ chức bị đánh giá, giúp họ hiểu được cách nâng cao kết quả hoạt động của đơn vị mình.

Nhóm đánh giá từ bên ngoài sẽ trình bày kết quả đánh giá với ban lãnh đạo của tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Cả hai bên thảo luận kết quả và đi đến thống nhất trước khi nhóm đánh giá bên ngoài xây dựng báo cáo cuối cùng. Để kết quả đánh giá cuối cùng có hiệu lực, dự thảo báo cáo cuối cùng phải được thảo luận với tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Tổ chức có thể đưa ra phản hồi và trình bày quan điểm của mình và nếu không đồng ý với ý kiến của chuyên gia đánh giá thì những điểm khác biệt sẽ được thảo luận cho tới khi cả hai bên đi đến thống nhất.

Ví dụ về một tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp: Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp - AERES

AERES được thành lập căn cứ theo điều luật về các chương trình nghiên cứu ở Pháp  năm 2006 và đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2007. Luật này cho phép AERES thực hiện những nhiệm vụ sau:

 Đánh giá các tổ chức và viện nghiên cứu, viện đào tạo đại học, các quỹ và tổ chức hợp tác khoa học, các viện và cục nghiên cứu quốc gia Pháp;

Đánh giá các hoạt động nghiên cứu được thực hiện bởi những đơn vị nghiên cứu trên. AERES trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện đánh giá với sự hỗ trợ của những tổ chức nghiên cứu sử dụng những quy trình được AERES chấp nhận;

Đánh giá chương trình giảng dạy của các viện đào tạo đại học;

Phê duyệt các quy trình đánh giá cán bộ của các viện và tổ chức nghiên cứu, đưa ý kiến về tình hình thực hiện những quy trình đó.

Năm 2012, kinh phí hoạt động của AERES là 12 triệu EURO, với 71 cán bộ biên chế, 125 cán bộ khoa học làm kiêm nhiệm (các cán bộ nghiên cứu, giáo sư) và 1738 chuyên gia bên ngoài làm việc theo các dự án đánh giá. Trong năm 2011-2012, AERES đã đánh giá 5 viện nghiên cứu lớn, 222 đơn vị nghiên cứu và hơn 800 chương trình giáo dục đại học.


Báo cáo đánh giá cuối cùng sẽ được hoàn thiện và đệ trình cho các cơ quan liên quan, trong đó cung cấp những thông tin chi tiết về kết quả hoạt động thực tế của tổ chức và mức độ hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao; điểm mạnh và điểm yếu thực tế của tổ chức; cơ hội để nâng cao kết quả hoạt động khoa học và hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở báo cáo này, các Bộ và các cơ quan quản lý biết về kết quả hoạt động và tiềm năng của tổ chức nghiên cứu, đồng thời bản thân tổ chức nghiên cứu cũng nhận ra những cải cách cần thiết để giúp tổ chức mình trở nên mạnh hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn.

Để đảm bảo công tác đánh giá tổ chức nghiên cứu được thực hiện hiệu quả và có chất lượng, việc đánh giá phải được lập kế hoạch và thực hiện bởi các chuyên gia đánh giá có kinh nghiệm, do vậy chúng ta cần phải xây dựng và phát triển năng lực và trình độ đánh giá, hình thành cơ sở pháp lý, xây dựng hướng dẫn, các mẫu biểu đánh giá. Đồng thời các tổ chức nghiên cứu cần nhận thức đúng về lợi ích của việc đánh giá để có sự hợp tác, phối hợp, trao đổi tối đa với các chuyên gia đánh giá, bởi công tác đánh giá chỉ có thể thực hiện được nếu tất cả các bên tham gia đều hợp tác và cung cấp các thông tin, dữ liệu cần thiết, và cùng biết cách sử dụng kết quả đánh giá.

Đánh giá các viện nghiên cứu Chính phủ ở Hàn Quốc
Văn phòng Thủ tướng Chính phủ bắt đầu thực hiện đánh giá viện nghiên cứu Chính phủ (GRIs) lần đầu tiên năm 1991. Dựa trên kết quả của những đánh giá này, một vài viện nghiên cứu chính phủ đã phải giải thể, tái cơ cấu hoặc hợp nhất. Từ năm 1999 đến năm 2005, có 4 hội đồng nghiên cứu được thành lập. Mỗi hội đồng thực hiện đánh giá viện nghiên cứu chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu của họ.

Kể từ năm 2006, Hàn Quốc giới thiệu một hệ thống đánh giá viện nghiên cứu chính phủ dựa trên hiệu quả hoạt động, theo đó việc hoàn thành các nhiệm vụ,  mục tiêu, công tác quản lý của mỗi viện nghiên cứu chính phủ đều được đánh giá. Việc cấp kinh phí hoạt động cho các viện có thể tăng hoặc giảm dựa trên kết quả của những đánh giá này.


Trong bối cảnh chúng ta không có đủ chuyên gia có khả năng áp dụng các phương pháp phức tạp và tinh vi, các tổ chức KH&CN và những đối tác khác cũng chưa quen tham gia vào các công việc đánh giá, chúng ta nên bắt đầu đánh giá theo những cách thức thiết thực và đơn giản, có thể dễ dàng thực hiện trong khả năng hiện có. Các phương pháp tinh vi hơn có thể được thực hiện sau này khi đã có nhiều kinh nghiệm.

Đọc thêm:
* Đánh giá các tổ chức KH&CN: Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7700

* Cải thiện hiệu quả các viện nghiên cứu bắt đầu từ việc làm rõ tiêu chí đánh giá
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7692

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.