Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/02/2010 17:54 (GMT+7)

Đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của 3 giống gà địa phương: gà Hồ, gà Đông Tảo và gà Mía

1. Mở đầu

Việt nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện thuận lợi cho các loài động thực vật phát triển. Vì vậy nước ta được đánh giá là có đa dạng sinh học vào bậc nhất thế giới.

Từ điều kiện tự nhiên thuận lợi, cùng với lịch sử phát triển lâu đời của nền nông nghiệp lúa nước, nhân dân ta đã thuần dưỡng, chọn lọc được nhiều giống vật nuôi. Đặc biệt là rất phong phú và đa dạng về các giống gà: Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo, Tàu Vàng, Tre. Chọi, Ác, H’mông… tuy nhiên, hiện trạng và khả năng sản xuất của các giống gà này cần được hệ thống hoá và đánh giá đa dạng di truyền giúp cung cấp căn cứ để định hướng bảo tồn và phát triển các giống gà nội. Trong khuôn khổ của đề tài “Đánh giá đa dạng di truyền của các giống gà nội” thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, chúng tôi tiến hành điều tra số lượng, cơ cấu đàn, theo dõi một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của các giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía.

2. Phương pháp

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên đối tượng là 3 giống gà nội: Hồ, Đông Tảo và Mía, với hai nội dung chính: Điều tra đánh giá hiện trạng về số lượng, cơ cấu đàn, đặc điểm ngoại hình và một số chỉ tiêu sinh sản của 3 giống gà trên tại các địa phương vốn là nơi nguyên sản xuất chúng: gà Hồ tịa thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh; gà Đông Tảo tại xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, Hưng Yên và gà Mía tại xã Đường Lâm, thành phố Sơn Tây, Hà Nội. Thu thập số liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý chăn nuôi của địa phương, trực tiếp điều tra phỏng vấn các hộ chăn nuôi theo bộ câu hỏi mở. Ở mỗi địa phương, điều tra tại 50 hộ có nuôi các giống gà này. Thời gian điều tra: từ tháng 2 – 6/2007.

Theo dõi khả năng sinh trưởng của 3 giống gà: hồ (76 con), Đông Tảo (100 con) và Mía (182 con) từ sơ sinh tới 20 tuần tuổi, được nuôi theo phương thức công nghiệp với chế độ dinh dưỡng như đối với các giống gà lông màu và được ăn với chế độ ăn tự do để đánh giá khả năng sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng tại Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi trong năm 2007.

2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả được xử lý thống kê mô tả bằng phân mềm Excel. 2003 và SAS 8.1 tại Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Các giá trị trung bình được so sánh theo phương pháp Duncan bằng phần mềm SAS 8.1

3. Kết quả

3.1. Số lượng và cơ cấu của các giống gà

Kết quả thu được về số lượng và cơ cấu đàn của 3 giống gà được thể hiện ở Bảng 1

Bảng 1. Số lượng và cơ cấu đàn gà Hồ, Đông Tảo và Mía

Loại gà

Gà Hồ

Gà Đông Tảo

Gà Mía

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (con)

Tỷ lệ (%)

Sinh sản

Trống

49

8,57

20

2,43

174

6.20

Mái

127

22,20

100

12,20

655

23,36

Dò, hậu bị

129

22,55

200

24,43

835

29,78

Gà con

267

46,68

500

60,94

1140

40,66

Tổng

572

100

820

100

2804

100

Bảng 1 cho thấy, các giống gà chỉ còn được duy trì với số lượng rất ít, nhiều nhất là gà Mía với 2804 cá thể, đặc biệt là gà Hồ chỉ còn 572 cá thể. Với số lượng này có thể thấy nguy cơ tuyệt chủng luôn là mối đe doạ các giống gà này. Đây cũng vẫn còn là một báo động đối với công tác bảo tồn các giống gà quý này, nhất là trong thời điểm dịch bệnh xảy ra.

3.2. Đặc điểm ngoại hình của các giống gà

Các quan sát và mô tả đặc điểm ngoại hình đặc trưng của ba giống gà Hồ, Đông Tảo và gà Mía được tổng hợp ở bảng 2.

Bảng 2. Đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà Hồ, gà Đông Tảo và gà Mía

Đặc điểm

Gà Hồ

Gà Đông Tảo

Gà Mía

Màu sắc lông

Gà trống màu mận chín (mã mận), màu đen (mã lĩnh).

Gà mái lông màu đất thó (mã thó), màu quả nhãn (mã nhãn), màu chim xẻ (mã xẻ).

Gà trống màu mận chín pha màu đen (mã mận), màu đen nhiều hơn (mã lĩnh).

Gà mái lông màu vàng nhạt, màu nâu nhạt

Gà trống lông chủ yếu có màu mận chín, còn lại là lông đen.

Gà mái lông màu lá chuối khô.

Mào

Mào xuýt, mào nụ

Mào kép, mào nụ, mào “hoa hồng”, mào “bèo dâu”.

Mào đơn (mào cờ), tích tai chảy.

Hình dáng

Thân hình to, cao trường, chân cao, vảy chân màu đỗ nành

Thân hình to, thô, đùi dài, vòng chân to, vảy thịt to màu vàng viền đỏ nhạt, ngón chân múp míp, vảy chân vàng nhạt.

Thân hình to, dài, hình chữ nhật, chân hơi cao và nhỏ hơn gà Đông Tảo và gà Hồ, vảy chân vàng nhạt.

Nhìn chung, gà trống của ba giống gà này có màu sắc lông tương tự nhau, riêng gà trống Mía có mào đơn, trong khi hai giống còn lại không có mào đơn. Hình dáng của gà Mía bầu bĩnh, dáng hơi lùn so với hai giống gà kia.

Gà Hồ và Đông Tảo có hình dáng, màu lông khá giống nhau, chỉ có một điểm mấu chốt để phân biệt đó là kích thước và đặc điểm của chân: chân gà Đông Tảo rất to và xù xì, có vảy thịt màu vàng viền đỏ, trong khi đó gà Hồ có chân nhỏ hơn, bề mặt trơn nhẵn, không xù xì, như gà Đông Tảo.

3.3. Một số đặc điểm sinh sản của các giống gà

Để đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của 3 giống gà, chúng tôi đã tiến hành điều tra và kết quả được trình bày trong Bảng 3.

Kết quả điều tra này cho thấy gà Hồ và gà Đông Tảo có khối lượng khi thành thục là tương đương nhau nhưng gà Hồ lại có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn rất nhiều. Như vậy về chỉ tiêu này, nuôi gà Hồ sinh sản sẽ kém hiệu quả hơn gà Đông Tảo. Hơn nữa Đông Tảo có sản lượng trứng/ mái/ năm cao hơn so với gà Hồ (67,09 quả/ mái/ năm) trong khi đó gà Hồ là 51,27 quả/ mái/ năm. Chính vì vậy việc nhân thuần đàn gà Hồ hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do tuổi thành thục muộn và năng suất trứng thấp.

Thực tế hiện nay gà Đông Tảo đang rất phát triển. Trong khi gà Hồ ở thôn Lạc Thổ hiện nay có số lượng rất ít. Năng suất sinh sản của gà Mía là tốt nhất trong 3 giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía. Tuổi thành thục của gà Mía là sớm nhất 188,17 ngày. Sản lượng trứng/ mái/năm đạt cao 96,20 quả/ mái/ năm. Theo công bố của Lê Viết Ly và cs (2001), gà Mía đẻ quả trứng đầu tiên ở 165 - 179 ngày tuổi, số trứng 9 tháng đẻ là 55 – 62 quả/ mái. Gà Đông Tảo tuổi thành thục là 159 ngày, sản lượng trứng của 10 tháng đẻ là 68,3 quả. Gà Hồ tuổi thành thục là 8 tháng, sản lượng trứng khoảng 40 - 50 quả/ mái/ năm. Như vậy, năng suất trứng của các giống gà trong nghiên cứu này là tương đương với công bố của Lê Viết Ly.

Trong 3 giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía thì năng suất sinh sản của gà Mía là cao nhất với tuổi thành thục sớm và khối lượng thành thục thấp, sản lượng trứng/ mái/ năm là cao nhất, trội hơn hẳn so với 2 giống còn lại. Tuy nhiên, khối lượng trứng là thấp nhất và chênh lệch về khối lượng trứng giữa các giống là khá lớn: khoảng 3 – 4 g/quả. Gà Hồ có sản lượng trứng/ mái/ năm là thấp nhất 51,27 quả/ mái/ năm. Nhưng khối lượng trứng của gà Hồ lại đạt cao nhất 52,32 g/quả, trong khi đó gà Mía có khối lượng trứng là 42,16 g/quả.

3.4. Khả năng sinh trưởng của ba giống gà

Khả năng sinh trưởng của 3 giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía từ 0 đến 9 tuần tuổi được thể hiện ở Bảng 4. Khối lượng gà 1 ngày tuổi của 3 giống gà rất khác biệt, có khối lượng sơ sinh cao nhất là gà Đông Tảo (35,33 g/con) thấp nhất là gà Mía (30,06 g/con). Theo Lê Viết Ly và cs (2001), khối lượng 1 ngày tuổi của gà Đông Tảo là 38,5 g/con và gà Mía43 g/con.

Như vậy, kết quả của chúng tôi thu được là thấp hơn. Mặc dù gà Mía có khối lượng xuất phát lúc 1 ngày tuổi thấp nhất, nhưng chúng lại có tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn 0 - 9 tuần tuổi luôn ở mức cao nhất, tiếp đến là gà Hồ và thấp nhất là gà Đông Tảo. Từ 2 - 5 tuần tuổi, gà Đông Tảo luôn có khối lượng tương đương gà Hồ và thấp hơn gà Mía. Vào tuần tuổi thứ 6 và 7, gà Đông Tảo luôn có khối lượng thấp hơn rõ rệt so với gà Hồ và Gà Mía (P < 0,05).

Tuy nhiên đến tuần thứ 9, gà Đông Tảo có khối lượng tương đương gà Mía và cao hơn gà Hồ (P < 0,05). Lúc 10 tuần tuổi, việc phân biệt trống, mái theo ngoại hình của ba giống gà đã rất rõ ràng, vì vậy theo dõi sinh trưởng được tách riêng giữa gà trống và gà mái, kết quả được thể hiện ở Bảng 5 và Bảng 6.

Từ 10 - 20 tuần tuổi, khối lượng gà mái Đông Tảo luôn có xu hướng cao nhất. Tuy nhiên, từ tuần thứ 14 đến tuần thứ 20, gà Hồ có tốc độ sinh trưởng khá hơn. Vì vậy, ở 20 tuần tuổi, khối lượng của gà Hồ và gà Đông Tảo tương đương nhau (1886,40 và 18640,37 g/con, P > 0,05). Gà Mía trong giai đoạn này có tốc độ sinh trưởng chậm hơn, vì vậy ở 20 tuần tuổi chỉ đạt 1647,33 g/con, thấp hơn rõ rệt với gà Hồ và gà Đông Tảo (P < 0,05).

Kết quả cũng tương tự đối với gà trống:gà Đông Tảo luôn có khối lượng cao nhất, gà Hồ từ tuần thứ 13 có tốc độ sinh trưởng khá hơn, vì vậy tương đương với gà Đông Tảo lúc 20 tuần tuổi (P > 0,05). Đến 20 tuần tuổi, khối lượng của gà trống Đông Tảo và Hồ là tương đương nhau (2152,22 và 2146,00 g/con), trong khi đó gà Mía chỉ đạt 1843,33 g/con, thấp hơn rõ rệt so với 2 giống gà kia (P < 0,05).

Như vậy, gà Mía có tốc độ sinh trưởng nhanh trong giai đoạn 0 đến 9 tuần tuổi, sau đó chậm dần. Điều này có thể lý giải là do gà Mía có tuổi thành thục sớm nhất và khối lượng khi trưởng thành nhỏ hơn so với gà Hồ và gà Đông Tảo. Gà Hồ và gà Đông Tảo có tuổi thành thục muộn hơn, khối lượng trưởng thành lớn hơn hẳn so với gà Mía, vì vậy giai đoạn đầu chúng sinh trưởng với tốc độ chậm hơn, nhưng đến giai đoạn sau, chúng sinh trưởng nhanh hơn và có khối lượng cao hơn hẳn so với gà Mía lúc ở 20 tuần tuổi.

3.5. Tỷ lệ nuôi sống của các giống gà

Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 5 – 6 tuần tuổi được trình bày ở Bảng 7.

Bảng 7. Tỷ lệ nuôi sống của các giống gà Hồ, Đông Tảo và Mía

Tuần tuổi

Gà Hồ

Gà Đông Tảo

Gà Mía

Số con (con)

Tỷ lệ (%)

Số con (con)

Tỷ lệ (%)

Số con (con)

Tỷ lệ (%)

SS

76

100,00

100

100,00

182

100,00

1

76

100,00

100

100,00

176

96,70

2

74

97,37

99

99,00

175

96,15

3

72

94,74

98

98,00

168

92,31

4

71

93,42

96

96,00

168

92,31

5

70

92,11

96

96,00

167

91,76

6

69

90,79

96

96,00

165

90,66

7

69

90,79

95

95,00

149

81,87

8

69

90,79

94

94,00

145

79,67

9

69

90,79

92

92,00

139

76,37

10

68

89,47

89

89,00

138

75,82

11

68

89,47

89

89,00

137

75,27

12

67

88,16

89

89,00

136

74,73

13

65

85,53

89

89,00

132

72,53

14

62

81,58

89

89,00

131

71,98

15

62

81,58

88

88,00

129

69,23

16

61

80,26

86

86,00

126

68,68

17

58

76,32

86

86,00

125

68,13

18

58

76,32

86

86,00

124

67,58

19

58

76,32

86

86,00

123

67,68

20

58

76,32

85

85,00

123

67,58

Kết quả bảng 7 cho thấy, tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 5 - 6 tuần của cả ba giống gà này đều ở mức trên 90%, từ tuần thứ 7 trở đi tỷ lệ nuôi sống của gà Mía đã tương đối thấp. Đến 20 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của gà Mía chỉ là 67,58%, cao nhất là gà Đông Tảo cũng chỉ đạt 85,00%. Theo Nguyễn Văn Lưu (2005), tỷ lệ nuôi sống của gà Hồ giai đoạn 0 - 12 tuần tuổi là 92,28 - 100%, theo Lê Thị Nga (1999), tỷ lệ nuôi sống của gà Đông Tảo giai đoạn 0 - 6 tuần tuổi đạt 95,33%. Điều này cho thấy, tỷ lệ nuôi sống của các giống gà trong nghiên cứu này là thấp.

3.6 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng

Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng của gà Mía là tăng dần: 1 tuần tuổi và 20 tuần tuổi tương ứng là 0,50 và 6,32 kg TĂ/kg tăng trọng. Từ 1 - 8 tuần tuổi, gà Mía có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đến là gà Hồ và cao nhất là gà Đông Tảo.

Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, gà Mía lại có mức tiêu tốn thức ăn cao hơn 2 giống kia. Lý do là khối lượng trưởng thành của gà Mía là thấp hơn, vì vậy giai đoạn đầu tuy tiêu tốn thức ăn thấp hơn, nhưng khi tốc độ sinh trưởng chậm lại, tầm vóc cơ thể bắt đầu ổn định, tiêu tốn thức ăn tăng lên.

Trung bình toàn bộ giai đoạn sinh trưởng từ 1 – 20 tuần tuổi, gà Hồ có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đó là gà Đông Tảo và cao nhất là gà Mía. Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu khác: theo Nguyễn Văn Lưu (2005) tiêu tốn thức ăn của gà Hồ đến 16 tuần tuổi là 3,32 kg Theo Nguyễn Văn Thiện (1999), tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng đến 15 tuần tuổi của gà Mía ở con trống là 2,63kg, ở con mái là 2,70 kg, đến 24 tuần tuổi con trống là 3,88 kg, con mái là 4,75kg.

Bảng 8. Thu nhận và tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng của các đàn gà Hồ, Đông Tảo, Mía.

Giống/ Tuần tuổi

Gà Hồ

Gà Đông Tảo

Gà Mía

Thu nhận (g/con/ngày)

TTTĂ/kg (g/con/ngày)

Thu nhận (g/con/ngày)

TTTĂ/kg (g/con/ngày)

Thu nhận (g/con/ngày)

TTTĂ/kg (g/con/ngày)

1

2,64

1,26

2,74

1,50

2,56

0,50

2

13,36

3,15

15,87

3,61

13,14

1,47

3

14,68

3,04

21,23

2,47

18,85

1,70

4

24,18

4,20

26,34

3,49

22,11

1,99

5

27,45

3,35

38,69

4,11

35,87

2,38

6

33,56

3,15

48,05

5,04

43,50

2,43

7

35,73

3,01

64,10

3,54

52,11

2,99

8

40,70

3,28

69,54

3,62

57,77

3,52

9

52,65

3,50

84,26

3,88

60,04

3,89

10

62,69

3,47

97,91

4,16

65,49

4,01

11

66,18

3,65

101,12

4,65

72,46

4,09

12

73,53

3,81

101,12

4,40

73,07

4,36

13

80,10

4,46

112,36

4,81

77,41

4,77

14

87,56

4,37

111,51

4,69

83,70

5,42

15

90,90

4,24

111,63

4,83

84,34

5,31

16

92,30

4,61

93,02

4,76

92,04

5,72

17

95,40

4,58

93,02

4,82

96,66

6,08

18

98,50

4,42

93,02

4,84

89,83

7,15

19

98,70

4,65

93,33

4,90

72,66

6,53

20

101,60

4,21

105,00

4,70

91,58

6,66

TB

59,63

3,72

66,73

4,14

60,26

6,32

Tuy nhiên, theo Nguyễn Đăng Vang và cs, (1999) tiêu tốn thức ăn của gà Đông Tảo tính đến 22 tuần tuổi ở con trống là 3,89 kg, con mái là 4,55kg.

4. Kết luận

Ba giống gà Hồ, Đông Tảo, Mía có thể phân biệt đặc điểm giống thông qua các đặc điểm ngoại hình màu lông, kiểu mào, vẩy chân.

- Số lượng cá thể tại nơi nguyên sản của mỗi giống rất ít: gà Hồ là 572 con, gà Đông Tảo là 820 con và gà Mía là 2804 con.

- Cả 3 giống gà đều có tuổi đẻ trứng đầu muộn: gà Hồ là 288,45; Đông Tảo là 194,32 và Mía là 188,17 ngày tuổi. Năng suất trứng đạt thấp: Hồ là 51,27 quả/ mái/ năm; Đông Tảo 67,09 quả và Mía là 96,20 quả/ mái/ năm.

- Sinh trưởng trong giai đoạn 0 – 9 tuần tuổi của gà Mía là cao nhất, nhưng từ 10 đến 20 tuần tuổi, gà Hồ và Đông Tảo là tương đương còn gà Mía thì thấp hơn hẳn.

- Tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần tuổi ở gà Đông Tảo là 85%, gà Hồ là 76,32% và gà Mía 67,58%.

- Tiêu tốn thức ăn đến 20 tuần tuổi ở gà Mía là cao nhất (6,32 kg/kgTT_), thấp nhất là gà Hồ (3,72 kg/kgTT).

Tài liệu tham khảm     

1. Nguyễn Văn Lưu (2005).Nghiên cứu khả năng sinh sản, sinh trưởng và khả năng cho thịt của gà Hồ, Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.

2. Lê Viết Ly (2001).Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen động vật ở Việt Nam (tập II). Nxb Nông nghiệp – Hà Nội.

3. Lê Thị Nga (1999).Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Đông Tảo và con lai giữa gà Đông Tảo với gà Tam Hoàng, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp.

4. Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh (1999). Khả năng sinh trưởng, cho thịt và sinh sản của gà Mía, Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội chăn nuôi Việt Nam .

5. Phùng Đức Tiến, Trần Công Xuân, Lê Thị Nga, Đỗ Thị Sợi, Đào Thị Bích Loan, Nguyễn Thị Mười và Lê Tiến Dũng (2004).Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà bố mẹ ISA color và con lai giữa gà ISA với gà SASSO (X44). Kabir, Lương Phượng, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y - Phần chăn nuôi gia cầm. Nxb Nông nghiệp.

6. Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga và Nguyễn Mạnh Hùng (1999).Khả năng sản xuất của gà Đông Tảo nuôi tại Thuỵ Phương, Chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội Chăn nuôi Việt Nam .

7. Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và Phạm Thị Minh Thu (1999).Lai kinh tế gà Leghornvà Rhode Ri, chuyên san chăn nuôi gia cầm, Hội chăn nuôi Việt Nam .

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI
Chiều ngày 21/3, tại buổi họp báo quốc tế công bố kết quả bầu cử, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã chính thức công bố danh sách 500 đại biểu trúng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất nhiệm kỳ mới. GS.VS. Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.
VUSTA làm việc với Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC)
Chiều ngày 20/3, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi thăm quan và tham gia sinh hoạt khoa học tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VNSC) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm tăng cường sự kết nối giữa các chuyên gia, trí thức VUSTA với đơn vị nghiên cứu công nghệ cao hàng đầu của đất nước.
Tuyên Quang: Tập huấn phổ biến kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho nông dân
Ngày 17-19/3, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phối hợp với UBND các xã: Niêm Sơn, Tát Ngà tổ chức 8 lớp tập huấn phổ biến kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học cho 480 học viên thuộc 12 thôn của các xã: Niêm Sơn, Niêm Tòng (nay là xã Niêm Sơn); Tát Ngà, Nậm Ban (nay là xã Tát Ngà), tỉnh Tuyên Quang, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.
An Giang: Toạ đàm thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Ngày 17-18/3, tại phường Long Xuyên, đã diễn ra tọa đàm và tập huấn “Thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật” với sự tham gia của Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam (VUSTA), Liên hiệp Hội tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp Hội tỉnh An Giang, Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang cùng đông đảo cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh…
Đắk Lắk: Chủ tịch Liên hiệp hội trúng cử đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031
Ngày 17/3, Ủy ban bầu cử tỉnh đã tổ chức hội nghị công bố kết quả bầu cử và danh sách người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tại hội nghị, danh sách 84 đại biểu HĐND tỉnh đã được công bố, trong đó có TS. Phan Xuân Lĩnh - Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh.
Nhiều ý kiến của cử tri trí thức gửi tới Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Nhiều ý kiến tâm huyết của đội ngũ trí thức, nhà khoa học đã tập trung vào các vấn đề quan trọng của đất nước như phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, hoàn thiện thể chế, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Trí tuệ nhân tạo, quyền năng và lương tri
Trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là một công cụ đứng yên trong phòng máy. Nó đã bước ra ngoài đời sống, bước vào kinh tế, chính trị và cả vùng mờ của đạo đức. Khi những người tạo ra nó bắt đầu lên tiếng cảnh báo, câu hỏi không còn là AI sẽ làm được gì, mà là con người đã chuẩn bị đến đâu để đối diện với chính quyền năng do mình tạo ra.
Phú Thọ: Triển khai Hội thi, Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng năm 2026
Ngày 12/3, đoàn công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tổ chức, triển khai Hội thi Sáng tạo kỹ thuật và Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Phú Thọ năm 2026 do Tổng Thư ký Liên hiệp Hội tỉnh Nguyễn Thị Loan làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với một số doanh nghiệp, trường học trên địa bàn xã Bình Nguyên và phường Vĩnh Phúc.
Đoàn thanh niên VUSTA ra quân trồng cây xanh tại Đền thờ Chu Văn An, lan tỏa thông điệp sống xanh
Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2026, thiết thực chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026) và 43 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (26/3/1983 - 26/3/2026), ngày 14/3/2026, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hoạt động ra quân trồng cây xanh tại Khu di tích lịch sử quốc gia Đền thờ Chu Văn An.