Công nghệ cấy mô cây trồng
Nhân giống vi mô là một dạng của cấy mô cây trồng, làm tăng số lượng giốngcây trồng nhằm tạo thuận lợi cho phân phối và mở rộng phạm vi trồng trọt. Theo cách này, có thể tạo ra hàng nghìn bản sao cây trồng chỉ trong một thời gian ngắn. Người ta quan sát cây trồng nhân giống vi mô nhằm tạo ra thêm những cây mới phát triển nhanh hơn, khoẻ hơn và cho năng suất cao hơn so với các cành giâm hoặc chiết.
Những cây trồng có giá trị quan trọng đối với các nước đang phát triển đã được trồng bằng phương pháp này là cọ, mã đề, thông, chuối, chà là, cà, jojoba, dứa, cây cao su, sắn, khoai lang, khoai tây ngọt và cà chua.
Ứng dụng của công nghệ cấy mô cây trồng tại Châu Á
- Tại Thái Lan, công nghệ cấy mô được dùng để tái sinh các giống lan phát triển chậm và dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường. Thái Lan là nước dẫn đầu về công nghệ cây mô ở Đông Nam Á, tạo ra 50 triệu cây non một năm, hầu hết là thực vật họ lan. Loài cây này đã giúp cho Thái Lan trở thành nước xuất khẩu lan nhánh và lan cả cây lớn nhất thế giới.
- Nhân giống vi mô nhờ kỹ thuật cấy chồi cây đã được phát triển để nhân giống chuối. Tại Philippin, người ta sử dụng công nghệ này như một biện pháp kiểm soát các vi rút gây bệnh ở chuối như virut ở buồng chuối (BBTV) và virut gây bệnh khảm (BBrMV). Đây là những loại virut lan nhanh trong quá trình nhân giống.
Lợi ích của công nghệ cấy mô cây trồng
Tại Kênia, cũng như tại các nước đang phát triển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chuối là cây thực phẩm rất quan trọng. Tuy nhiên, trong 20 năm qua, sản lượng chuối đã giảm mạnh do chất lượng đất trồng kém và sự phá hoại của côn trùng, bệnh dịch... Công nghệ cấy mô cây trồng được xem như một lựa chọn hoàn hảo cho việc nâng cao sản lượng cũng như chất lượng cây chuối.
Nhờ quản lý hợp lý và vệ sinh đất trồng, việc thiệt hại năng suất do côn trùng và bệnh dịch ở mức độ nông trại đã được cải thiện đáng kể. Công nghệ cấy mô cây trồng đã đem lại cho người nông dân những thành quả sau: Tạo ra số lượng lớn các giống chuối không bị nhiễm bệnh và thời gian phát triển rất ngắn (12 - 16 tháng so với 2 - 3 năm của giống chuối truyền thống). Nâng cao trọng lượng buồng chuối (30 - 45kg so với 10 - 15kg của buồng chuối thông thường). Nâng cao năng suất cây trồng hàng năm trên một đơn vị diện tích đất trồng (40 - 60tấn/ha so với 15 - 20tấn/ha của cây chuối truyền thống).
Hơn nữa, sự đồng dạng và sự phát triển dồng đều của cây trồng làm cho việc liên kết thị trường trở nên dễ dàng hơn. Và nó cũng tạo khả năng mở rộng quy mô trồng chuối từ mức chỉ là phương tiện sinh sống đến quy mô một doanh nghiệp thương mại.
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học đã muốn kết hợp sức chịu đựng của cây lúa châu Phi với năng suất của cây lúa Đông Nam Á (Oryza sativa). Nhưng hai giống lúa này lại quá khác nhau. Những nỗ lực để nhân chéo chúng đã bị thất bại vì kết quả cho ra giống cây con mất khả năng sinh sản. Vào những năm 1990, các nhà trồng lúa thuộc Hiệp hội Phát triển cây lúa Tây Phi đã quay sang công nghệ sinh học với cố gắng vượt qua vấn đề sinh sản. Chìa khoá của nỗ lực này là các ngân hàng gen, nơi đang cất giữ hạt giống của 1500 giống lúa châu Phi. Bằng công nghệ cấy mô, các nhà khoa học đã giống lúa mới có tên “Giống lúa mới cho châu Phi” (NERICA), đã được kiểm tra vào năm 1994 và kể từ đó rất nhiều dòng lúa mới được sinh ra.
Thông thường, các giống lúa NERICA có các đặc tính như sau: Lá rộng và rũ xuống làm cho các loài cỏ dại bị chết ngạt trong thời kỳ đầu. Cụm hoa (bông lúa) dài hơn với các nhánh xoè ra, mang tới 400 hạt lúa. Nhiều chồi hơn và thân cây khoẻ hơn để nâng đỡ và cung cấp nguồn sinh dưỡng cho bông lúa nặng hạt. Năng suất cao hơn đến 2,5 tấn/ha nếu chăm sóc kém, và đến 5 tấn hoặc hơn nữa với một lượng phân bón ít nhất (sản lượng cao hơn khoảng 25 đến 250%). Phát triển nhanh hơn giống lúa hiện có từ 30 đến 50 ngày, cho phép người nông dân luân canh nhiều loại rau quả hoặc các loại đậu khác. Cao hơn hầu hết các giống lúa khác, khả năng kháng côn trùng và chịu đựng hạn hán tốt hơn. Phát triển tốt trên các mảnh đất kém màu mỡ và có axit (loại đất này chiếm tới 70% diện tích đất trồng ở Tây Phi). Cung cấp lượng prôtêin cao hơn 25% so với cây lúa bố mẹ châu Phi hay Đông Nam Á.
Chính vì những ưu điểm này mà giống lúa NERICA đã nhanh chóng được người nông dân đón nhận. Năm 2000, ước tính 8000ha giống lúa mới này được trồng ở Kênia, trong đó 5000ha được trồng bởi 20.000 nông dân. Năm 2002, WARDA lên kế hoạch trồng 330.000ha giống lúa NERICA nhằm đáp ứng nhu cầu của các nước trồng giống lúa này và ngoài ra còn xuất khẩu sang các nước láng giềng.
Nguồn: Kinh tế Nông thôn, Số 42 (476), Thứ hai,- Ngày 17/10/2005, trang 14








