Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 27/06/2007 23:47 (GMT+7)

Công bằng xã hội

Công bằng là giấc mơ hoa của nhân loại từ xưa đến nay và mãi đến mai sau. Nhưng công bằng là gì thì không phải ai cũng hiểu như nhau. Từ thuở còn săn bắn hái lượm để sống, công bằng thường được lẫn lộn với bình quân (égalité, moyenne). Kết quả săn bắn được chia đều cho mọi thành viên trong bộ lạc, kể cả người qua đường. Người ta tặng cho bộ lạc nguyên sơ một cái chăn thìi ngay lập tức cái chăn được cắt thành nhiều mảnh nhỏ để chia đều cho nhau, nhưng thực ra chẳng dùng làm gì được cả. Họ đánh mất giá trị sử dụng về kinh tế nhưng lại có giá trị công bằng về tinh thần, điều mà xã hội càng văn minh càng thua kém xã hội tự nhiên (Rousseau).

Xã hội chiếm hữu nô lệ đương nhiên là văn minh hơn xã hội nguyên thuỷ, cho nên “công bằng” cũng được nâng lên trình độ “văn minh” hơn. Với tư cách là chủ nô, Aristote cho rằng công bằng có nghĩa là ai đáng được đối xử như thế nào thì đối xử như thế ấy. Nô lệ không phải là người mà chỉ là “công cụ” biết nói mà thôi. Cho nên nô lệ phải được đối xử “công bằng” như đối xử với một công cụ. “Công bằng” bắt đầu chia tay với “bình quân”. Ở phương Đông, Mạnh Tử lại dựa vào chức năng tự nhiên của cơ thể con người để lập luận cho cái gọi là “công bằng” xã hội. Ông cho rằng chức năng của cái đầu là lao động trí óc, chỉ đạo lao động chân tay, cho nên người “lao tâm” trị người “lao lực” là lẽ tự nhiên (Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng). “Tự nhiên” trở thành “chuẩn mực”, trở thành chỗ dựa của “công bằng bất công”. Lão Tử không lấy cái “tự nhiên” thuyết minh cho cái xã hội mà lại bắt cái xã hội phải quay về với cái tự nhiên. Lão Tử cho rằng sai lầm của xã hội con người chính là ở chỗ luôn ngược lại với tự nhiên. Tự nhiên lấy chỗ thừa bù cho chỗ thiếu còn xã hội lại lấy chỗ thiếu bù cho chỗ thừa (Thiên chi đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc. Nhơn chi đạo, tắc bất nhiên, tổn bất túc dĩ phụng hữu dư, Đạo đức kinh, Chương 77). Lão Tử luôn tỏ ra không hài lòng với những gì mà con người làm ra. “Công bằng” thuộc về quá khứ không phải thuộc về hiện tại, càng không thuộc về tương lai.

Một đất nước mà thần quyền kết hợp chặt chẽ với vương quyền như Ấn Độ cổ đại, “chuẩn” của cái gọi là “công bằng” không dựa vào cơ sở tự nhiên mà dựa vào siêu nhiên. Bốn đẳng cấp Bàlamôn, vua, dân thường và nô lệ là sự “mặc đinh” của thần dựa vào đầu, mình, tay, chân và bàn chân biến tướng mà thành. Tiền đề của “công bằng” là “bất công” mà nguyên nhân của nó là ở trên trời cao chứ không phải ở dưới đất. Con người chỉ có thể đặt niềm tin vào “công bằng” siêu việt ở tương lai xa vời nào đó cho “bất công” trong hiện tại. “Bất công” trong hiện thực càng dìm con người xuống dưới đáy của xã hội bao nhiêu thì đồng thời lại nâng con người lên đỉnh cao của ảo tưởng thiên đường bấy nhiêu. Tuy nhiên, một khi người ta không phải đi từ dưới đất lên trời mà ngược lại, đi từ trên trời xuống dưới đất thì “công bằng” không phải là chuyện chỉ được nghe mà phải là được thấy, không phải là chuyện “hạ hồi phân giải”. Có lẽ J. j. Rousseau là tác giả hàng đầu của những câu chuyện về “hồi một” đó. Nếu hoa hướng dương luôn hướng về mặt trời thì cả cuộc đời của Rousseau luôn hướng về “công bằng” và “tự do”. “Công bằng” và “tự do” là anh em sinh đôi. “Công bằng mà không có “tự do” chỉ là công bằng “một nửa”. Và cũng chẳng có “cây” tự do nào lại có thể mọc lên từ mảnh đất bất công. Theo Rousseau, trong buổi sơ khai, không có đạo đức, không có thiện ác, cho nên cũng không có cái gọi là “công bằng” hay “bất công”. Văn minh của nhân loại là văn minh từ công bằng sang bất công. Bất công ở thời kỳ đầu tiên là bất công về kinh tế, bất công giữa giàu và nghèo. Bất công ở thời kỳ thứ hai là bất công về chính trị biểu hiện ở nhà nước và pháp luật “công bằng”. Bất công ở thời kỳ thứ ba là bất công về chuyên chế hủ bại của giai cấp thống trị ( Bàn về nguồn gốc và cơ sở bất công của nhân loại, Discours sur l’origine et les fondements de l’ingalité parmi les hommes).

Như vậy là dựa vào tự nhiên và dựa vào cả siêu nhiên để vẽ ra bức tranh mờ mờ ảo ảo về xã hội công bằng. Con người dễ dàng chấp nhận “công bằng” trước Chúa. Bởi vì Chúa vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Con người cũng khó lòng từ chối trước “công bằng” siêu hình, trừu tượng và lý trí. “Công bằng” và “tự do” trước mua và bán sức lao động là hợp lý nếu học thuyết giá trị thặng dư của Mác không còn giá trị. “Công bằng” trước pháp luật cũng chỉ là “công bằng” trong quá trình thực hiện công bằng, bởi vì pháp luật luôn hiện hữu với tư cách là ý chí của giai cấp thống trị. Sự hiện hữu của pháp luật, của Nhà nước, bản thân nó đã bộc lộ mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa “công bằng” và “bất công” như Ăng ghen đã nhận xét. Nhiều lắm, nó cũng chỉ có thể làm cho mọi người tưởng rằng chân lý đã được chia đều.

Xoá bỏ giai cấp, xoá bỏ tư hữu là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để thực hiện “công bằng” xã hội. Nếu đấu tranh giai cấp là động lực trong lịch sử xã hội có giai cấp thì “công bằng” sẽ là động lực của động lực. Sự thống nhất giữa Nước và Nhà luôn tỷ lệ thuận với thực hiện “công bằng” xã hội. Một sự thiếu công bằng dù nhỏ, có khi lại dẫn đến tai hoạ không nhỏ chút nào. Lịch sử chẳng đã ghi chép chuyện Cự Đà không được ăn xoài đó sao! Chuyện tuy nhỏ nhưng bài học lại lớn, đáng suy ngẫm thay:

“Lúc trước vua cho các quan hầu cận ăn xoài. Cự Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên tới bến Đông, Cự Đà ngồi thuyền nhẹ trốn đi. Đến Hoàng Giang gặp hoàng thái tử đi thuyền ngược lên. Cự Đàu tránh sang bờ sông bên kia, thế thuyền đi rất gấp. Quan quân hô to lên hỏi: “Quân Nguyên ở đâu?” Cự trả lời: “Không biết, các ngươi hãy hỏi những người ăn xoài ấy”. Đến đây thái tử xin khép Cự Đà vào cực hình để răn những kẻ làm tôi bất trung. Vua nói: “Cự Đà tội đáng giết cả họ, song đời xưa có việc Dương Chân không được ăn thịt dê, đến nổi làm quân nước Trị bị thua. Việc Cự Đà là lỗi của ta, tha cho tội chết, cho đánh giặc chuộc tội”…

Nếu nhà vua nghe lời thái tử trị tội Cự Đà thì cũng là thực hiện “công bằng” đối với những ai đã gieo gió thì phải gặp bão. Nhưng nhà vua đã tỏ ra “công bằng” hơn khi chịu trách nhiệm về sai lầm trong cung cách và hậu quả ứng xử của mình. Chỉ cần một biểu hiện như vậy cũng đủ để giải thích tại sao ba lần quân Nguyên sang xâm lấn, ba lần đều bị quân dân ta đánh cho tan tác. Bài học quan trọng “khoan sức cho dân” của Trần Hưng Đạo cũng là thể hiện lẽ công bằng mà người dân đáng được đối xử trong thời bình những gì mà họ cống hiến trong thời chiến. Bài học lịch sử này hình như đã thấm sâu trong Di chúccủa Hồ Chí Minh không biết từ lúc nào. Cho nên “Việc đầu tiên” trong Di chúclà “công việc đối với con người”. Việc đầu tiên đối với con người là thực hiện công bằng xã hội. Nghĩa là “đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình” thì “Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn”, “đối với các liệt sĩ” thì “cần phải xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm” để ghi nhớ “sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”, “đối với cha mẹ, vợ con (của thương bình và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu” thì “phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”. Và cả “đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ” thì cũng cần phải “cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”…

Bài học vô cùng giản dị nhưng cũng không phải dễ dàng thực hiện. Hình như trong lịch sử của nhân loại, từ xưa đến nay, công bằng trong “cộng khổ” dễ thực hiện hơn nhiều so với công bằng ở “đồng cam”. Bởi vì “công bằng” là động lực và “bất công” cũng là động lực, giống như cái “thiện” là động lực và cái “ác” cũng là động lực. Hégel nhận xét như vậy và được Ăng ghen dánh giá cao trong ( Ludwig Feurbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức).

Công bằng ở chủ nghĩa xã hội, theo Mác, chủ yếu là công bằng về phân phối sản phẩm dựa vào lao động (à chacun selon son travail) chứ chưa phải dựa vào nhu cầu (à chacun selon ses besoins). Nhưng năng lực lao động cũng chưa phải là hệ quả của công bằng xã hội. Không phải ai cũng có điều kiện đào tạo, học tập như nhau. Đó là chưa nói đến giai cấp trong xã hội vẫn còn đó, khoảng cách giàu nghèo ngày một gia tăng, quyền lực, chức vụ, chức danh và năng lực thực sự cũng như tư cách đạo đức ít nhiều tỏ ra không “công bằng” với chính nó. Có lẽ ngoài thần đèn ra, trên đời này chẳng ai dại gì xây lâu đài trên một mặt bằng “không bằng”. Cho nên “công bằng xã hội” mà mục tiêu hình như vừa gần lại vừa xa. Chẳng trách thiên hạ phải than rằng một trong những từ ngữ là con người “lạm phát” nhiều nhất đó là “tự do” và “công bằng”. Thậm chí có người còn cho rằng “công bằng” là mục tiêu chạy đuổi, chẳng bao giờ có thể nắm bắt được nó.

Có lẽ chẳng có công bằng tuyệt đối nào cả cho mọi thời đại, trừ phi sống và chết. Ai cũng phải sinh ra và ai cũng phải chết, đó là công bằng nhưng sinh ra và chết như thế nào thì lại là chuyện kác. Không phải Mác mà chính Rousseau đã cho rằng tư hữu là nguyên nhân của bất công. Nhưng không phải xoá bỏ tư hữu bằng cách trở về với tự nhiên như Rousseau quan niệm. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giàu mạnh mới là tiền đề của công bằng xã hội. Công bằng xã hội đẹp nhất mà con người đang hướng tới chẳng phải là “phân phối theo nhu cầu” đó sao? Không giàu mạnh thì làm sao có thể thực hiện được điều đó. Xu hướng toàn cầu hoá thương mại – WTO là sân chơi công bằng cho các thành viên của nó, ít ra là về lý thuyết. Mong rằng lý thuyết đó sẽ biến thành hiện thực, sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam trở thành đất nước giàu mạnh. Tuy nhiên, giàu mạnh suy cho cùng cũng chỉ là phương tiện, nhưng lại là phương tiện không thể thiếu để thực hiện giấc mơ nghìn đời của nhân loại, giấc mơ xông bằng xã hội.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.