“Con đường đi tới một chân lý càng khó thì khi đi tới chân lý đó, người ta càng tin tưởng” *
Cho đến nay, ngay tại nước Pháp chưa xuất hiện lần thứ hai một thanh niên 23 tuổi hoàn thành 2 luận án tiến sĩ trong vòng 1 năm. Nhưng điều đáng nói là với danh vọng đã đạt được khi còn rất trẻ, Nguyễn Mạnh Tường chỉ hành nghề luật sư nhằm bảo vệ cho các thân chủ của mình và khi Tổ quốc cần ông tham gia vào những cuộc đấu tranh trên mặt trận pháp lý bảo vệ lợi ích của quốc gia và dân tộc. Năm 1946, ông được tham dự cuộc Hội nghị Đà Lạt đấu tranh bảo vệ chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam trước mưu đồ trở lại xâm lăng của chủ nghĩa thực dân Pháp.
Những năm về sau cho đến cuối đời ông tham gia giảng dạy đại học, là Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, tham dự nhiều hội nghị quốc tế và là tác giả của nhiều cuốn sách khảo cứu về văn hóa phương Tây và nền giáo dục dân tộc. Cho dù phải trải qua nhiều thử thách thăng trầm với thời cuộc, nhưng trọn vẹn cuộc đời Nguyễn Mạnh Tưởng vẫn là “một trí thức yêu nước đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam” như lời đánh giá của Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Luật sư Nguyễn Mạnh Tưởng, Tạp chí Xưa & Nay xin giới thiệu với bạn đọc một đoạn trích dịch trong di cảo hồi ức viết bằng tiếng Pháp của Luật sư do gia đình cung cấp, với bản dịch của Nguyễn Bá Bảo, học sinh của thầy Tưởng và nguyên là Đại sứ Việt Nam tại Australia và New Zealand.
Đoạn trích này viết về cuộc gặp và trao đổi của tác giả với Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua họp ở Việt Bắc mùa xuân 1952. Nội dung cuộc trao đổi về những vấn đề của đất nước cách đây đã 55 năm nhưng vẫn chứa đựng những nội dung mang tính thời sự và tấm gương ứng xử giữa một trí thức chân thành và thẳng thắn với một nhà lãnh đạo luôn “giữ được tự chủ một cách tuyệt vời và có bản lĩnh hoàn hảo”.
“Hồ Chủ tịch hỏi tôi, Đại hội đã gây cho tôi cảm tưởng gì?”. Tôi đã trả lời Người:
“Thưa Chủ tịch, một cảm tưởng mà tôi buộc phải coi là cực kỳ đặc biệt. Làm sao tôi có thể tưởng tượng cây Người có thể sản sinh ra những bông hoa tuyệt mĩ như vậy, làm sao người bằng xương bằng thịt có thể đạt tới đỉnh cao như vậy của chủ nghĩa anh hùng và lòng cao thượng? Và khi trong mạch máu của họ chảy cùng một dòng máu đang chảy trong mạch máu của tôi, làm sao tôi có thể cưỡng lại niềm hào hứng với tự kiêu dồn dập trào tới tràn ngập lòng tôi, làm tôi ngạt thở, hòa loãng tâm hồn tôi trong một cơn say mà tôi chưa hề biết tới như vậy.
Thời thơ ấu, tôi đã đọc trong sách lịch sử chuyện những chiến thắng của các anh hùng dân tộc ta đã giành được trong sự nghiệp chống xâm lược ngoại bang. Những trang sử đó, tôi đọc đi đọc lại và mỗi lần đều thấy một niềm say sưa mới. Lớn lên tôi học lịch sử Hy Lạp cổ đại, tôi rất chú ý tới những tên Marathonvà Salamine mà thế giới văn minh không ngớt ca tụng sự vinh quang. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng niềm vinh dự đó. Nhưng trước kia tôi tưởng thời oanh liệt đã qua rồi, và cho rằng Việt Nam bị nô dịch đã hơn một thế kỷ, chờ đợi mãi mà cũng chẳng có kết quả gì, việc tái sinh những anh hùng huyền thoại thời xưa sẽ chiến đấu mang lại tự do và độc lập cho đất nước.
Thế mà, những anh hùng đó đã đến: Tôi trông thấy họ xung quanh tôi, tôi chú ý nghe chiến công của họ với bao niềm vui và cảm phục. Nếu trước kia, trước khi rời đi chiến khu, tôi đã hiến tất cả tài sản cho nhân dân, tôi mang theo trong lòng một sự thỏa mãn đã hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc, nhưng tôi không hề thấy lóe ra trong tôi một chút hy vọng nào là sẽ chiến thăng trở về từ một cuộc chiến tranh mà tôi cho rằng sẽ thua ngay từ đầu. Bây giờ, trái lại, những nam nữ anh hùng mà tôi nuốt trôi từng lời nói, đã nhóm lên trong tôi ngọn lửa của niềm tin vào chiến thắng trong tương lai”.
Hồ Chủ tịch nghe tôi nói, con mắt mơ màng phóng ra đằng xa, rồi Người nhìn thẳng vào tôi với khóe nhìn lóng lánh niềm vui, và tay vuốt bộ râu cằm, Người hỏi tôi một câu:
“Con đường mà chú đã trải qua để đi tới kết luận như hiện nay quả là khó khăn và tôi ca ngợi sự thành thật của chú. Con đường đi tới một chân lý càng khó thì khi đi tới chân lý đó, người ta càng tin tưởng. Đối với những anh hùng mà chú ngưỡng mộ, và là người đã thổi và tâm trí chú niềm tin vào chiến thắng cuối cùng, chú có thấy gì đặc biệt ở họ?”
- Thưa Chủ tịch, đó là nguồn gốc nông thôn của họ. Từ trước cho tới cuộc kháng chiến này, tôi đã sống ở các chốn thị thành, và giờ tôi thấy xấu hổ và thừa nhận rằng tôi chẳng biết tí gì về vùng nông thôn và về người nông dân. Chút hiểu biết gì về nông thông và nông dân tôi đã thu nhận được chỉ là sách vở và méo mó. Chính ở chiến khu, hành nghề luất sư và đi khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tôi đã được sống trong môi trường nông thôn, được tiếp xúc với người nông dân và được hiểu biết họ, bù đắp lại những chỗ hổng, sửa chữa những sai lầm và thành kiến của tôi, và đưa lại cho bản thân tôi một hình ảnh trực diện, đầy đủ và đúng đắn về dân tộc mà tôi tự hào là thành viên thuộc dân tộc đó. Mới gần đây thôi, hình ảnh nhân dân mà các tình huống trong cuộc sống đặt ra trước mắt tôi đã bị cắt xén, gây tổn thương, què quặt, tầm nhìn của giai cấp tiểu tư sản hạn chế con mắt tôi, che mắt tôi không thấy rõ sức mạnh vô biên của quần chúng nông dân. Bây giờ cái nhìn của tôi về Tổ quốc mình và những người con của Tổ quốc đó, đã được hoàn toàn thiết lập lại trong thực tế đầy đủ của nó. Một sự cân đối đã được hình thành trong tâm trí tôi và đem lại cho tôi những thú vui mới, chưa hề biết tới và vô giá.
Nhưng thưa Chủ tịch, tôi phải thú nhận với Chủ tịch rằng những người nông dân này mà tôi quý mến đức độ, và bỏ qua những thiếu sót, tôi không thể tưởng tượng sao họ có thể nâng cao khả năng đến mức thực hiện được những chiến công như chúng ta đã biết. Vậy mà những hiện tượng phi thường đó đã diễn ra và tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Tôi xin gửi đến Chủ tịch và Đảng của Người lòng tôn kính đã có khả năng nhóm lên ngọn lửa yêu nước của nông dân mà cả nước đang chờ mong những kết quả kỳ diệu”.
- Tôi sung sướng được nghe ý kiến của chú. Bây giờ, theo chú ta nên hướng chính sách của ta như thế nào?
- Đó là một vấn đề cực kỳ tế nhị, tôi sẽ chỉ dám đề cập đến vấn đề đó, nếu được Chủ tịch cho được hoàn toàn tự do tư tưởng. Về nội dung, tôi có nhiều ý kiến theo hướng của Chủ tịch, nhưng có những điểm quan trọng tôi cầu mong Người có những suy nghĩ mới.
Chúng ta cùng một điểm xuất pháp: quần chúng lao động bao gồm nông dân, công nhân, trí thức, cấu thành hầu hết dân số nước ta. Tất cả mọi chính sách không tính đến sự thật quá rõ ràng đó, chắc chắn sẽ thất bại ngay từ đầu. Lợi ích của nhân dân lao động phải là mối quan tâm thường xuyên của chúng ta. Mà họ không đòi hỏi cái không hề có, họ chỉ mong muốn được thỏa mãn ở mức tối thiểu những nhu cầu của một con người văn minh, nhu cầu về cơ thể, về trái tim, về khối óc và tất nhiên nhờ lao động chân tay hay trí óc của họ. Họ chỉ chờ đợi ở công quyền được phép sống một cuộc sống của con người.
Việc làm để họ có phương tiện sống một cuộc sống của con người, phải được đề cập tới trên hai phương diện. Việc làm đó phải là việc làm tự do, không cưỡng bức, chỉ có việc làm tự do mới đem lại hiệu quả cho người lao động và cho xã hội. Ngoài ra, người lao động không phải là dễ chơi, mà phải có lợi. Lợi đó là phải được hưởng thụ thành quả lao động của mình. Trước mắt là để chi tiêu về ăn uống, may mặc, nhà ở, học hành, văn hóa. Về tương lai là để đề phòng mọi rủi ro trong cuộc sống mà đáng lo ngại nhất là thất nghiệp, bệnh tật và tuổi già. Nhưng cũng để đảm bảo cho con cháu, trong chừng mực có thể, những điều kiện thuận lợi để có khởi đầu tốt đẹp bước vào đời. Tiền tiết kiệm giành ra được từ kết quả lao động không những kích thích sự hoạt động cần cù của con người, mà còn dạy cho người ta ý thức dự phòng, tôn trọng tiền bạc kiếm ra một cách lương thiện, và tốt nhất là tăng cường và phát triển sự đoàn kết gia đình, tình yêu sáng suốt của bố mẹ với con cái.
Quyền tự do lao động, quyền sở hữu cá nhân về tài sản do lao động kiếm ra một cách hợp pháp, đó là hai nguyên tắc người lao động rất quan tâm.
Trong lĩnh vực công cộng, cơ chế Nhà nước phải tôn trọng những nguyên tắc khác để bảo đảm việc thực thi tốt chức năng của Nhà nước. Nguyên tắc thứ nhất là tôn trọng pháp luật. Một sự lẫn lộn tai hại đang diễn ra giữa quyền lực và quyền. Tất cả các cơ quan từ cấp phường xã đến cấp trung ương đều tưởng mình có quyền làm tất cả, nhất là xâm phạm quyền tự do của công dân, và có quyền sử dụng những khoản tiền khổng lồ của công quỹ. Tôi không nói những vi phạm luật pháp khác mà tính chất phạm pháp rất rõ nét, ở đó những sự phản kháng là vô tội không được chú ý nghe như trong các trường hợp ranh giới giữa quyền lực và quyền không rõ ràng. Vì vậy nguyên tắc chung cần phải công bố là tất cả mọi người, kể cả những người có một chút quyền lực, đều phải tuân theo pháp luật, đó là ý nguyện của nhân dân và là công cụ giữ gìn trật tự công cộng.
Nguyên tắc đó bao giờ cũng kèm theo hậu quả tất yếu của nó là: Tất cả mọi vi phạm pháp luật phải dẫn tới trách nhiệm không chỉ chính trị (khai trừ khỏi Đảng), hành chính (cắt chức, hạ chức, cho về hưu), mà còn cả hình sự (tịch thu, tiền phạt, án tù). Phải quyết định trách nhiệm bao giờ cũng là cá nhân, vì trách nhiệm tập thể là vô nghĩa. Mọi quyết định đều mang một chữ ký, người ký tên chính là người sẽ phải đưa ra xét xử.
Để kết tội những người chịu trách nhiệm và áp dụng luật hình sự đối với họ, nhất thiết cơ chế quan tòa phải được toàn quyền tự do và độc lập đối với cấp trên trong hệ thống quan tòa và trong Đảng.
Nguyên tắc lớn thứ hai là nguyên tắc tách biệt Đảng và Nhà nước. Nói Đảng lãnh đạo Nhà nước, điều đó không ai có ý kiến gì khác. Nhưng hai hoạt động phải tách riêng nhau, và sự tách rời đó phải thực hiện triệt để suốt dọc đường ranh giới. Trong điều kiện đó không nhất thiết và cũng không nên cử vào những vị trí trách nhiệm và chỉ huy những đảng viên mà đáng buồn là không phải bao giờ cũng có đủ trình độ văn hóa và năng lực. Tiêu chí cần ứng dụng trong việc tuyển chọn cán bộ không phải kể đến khả năng trí tuệ và nghề nghiệp của ứng viên. Guồng máy Nhà nước không những chạy tốt hơn mà còn tránh được những sự bất hòa giữa Đảng viên và người ngoài Đảng, giữa Đảng và nhân dân. Cho đến nay Đảng bao trùm lên trên và nuốt chửng Nhà nước và không ít người nghĩ rằng Đảng lãnh đạo và cai trị vì lợi ích của Đảng hơn là vì lợi ích của nhân dân. Rất khó kiêm nhiệm cả hai chức năng lãnh đạo và Chính phủ, cách nhìn rối mù, phân định sai các vấn đề và bất tiện lớn, bây giờ chưa xảy ra, nhưng có thể xảy ra, là Đảng phải chịu trách nhiệm về những lầm lỗi của Nhà nước, mà nhẽ ra Đảng phải như vợ của Cesar đứng trên mọi nghi ngờ, được hoàn toàn tin cậy và có một uy tín bất khả chê trách.
Cuối cùng, một nguyên tắc chót tôi mạn phép được lưu ý Chủ tịch, đó là nguyên tắc phải có ý thức rất rõ về Đảng, về những khả năng của Đảng. Đảng độc quyền nắm chính quyền. Có lẽ đó là một sự cần thiết trong thời chiến, nhưng tôi mong rằng Đảng, với sự khôn ngoan của mình, suy nghĩ về những trở ngại của việc nắm quyền chuyên chế và về những nguy cơ sẽ gặp phải khi không được một nền tri thức rộng rãi hỗ trợ. Sự độc quyền tuyệt đối về quyền lực tự nó một mình không thể thực thi nếu không có sự góp sức của cả một đội quân trợ lý và người thừa hành, mà giá trị tài năng thường đáng xem xét, dễ mắc sai lầm đủ kiểu, thường khi không chủ tâm, nhưng rất hiếm vô tư. Đội quân đó lại kèm thêm một đội quân khác quan trọng hơn gấp hai lần, bao gồm những kẻ tay sai, xu nịnh hèn hạ thèm khát bổng lộc, tiền bạc, danh vọng, chỗ làm lương cao làm ít.
Bị giam hãm trong những thành người như vậy, làm sao chế độ độc quyền quyền lực có thể thực thi và đề ra được những quyết định sáng suốt, thích hợp, có hiệu quả? Và còn trong trạng thái bị mê hoặc vì tự mãn, say sưa về sức mạnh, thiếu chinh phục được tri thức rộng rãi, không có được một sự tiếp cận thích hợp, khách quan về thực tế, chế độ chuyên quyền tha hồ chủ quan, tự do duy ý chí và làm luật lệ lung tung, trái khoa học, trái lẽ phải, tác động tai hại đến uy tín của chính quyền và đến hạnh phúc của quần chúng rất bất bình với biết bao hành động thiếu đạo đức và ngu dốt. Giải pháp duy nhất của sự khôn ngoan là mở rộng tai nghe, mở rộng cửa cho người thứ ba, cho tiếng nói từ ngoài vào hoặc từ nhân dân đưa lên.
Thưa Chủ tịch, tôi xin lỗi đã lạm dụng sự kiên nhẫn của Người. Nhưng tôi đã được Chủ tịch cho phép. Vì tôi thiết nghĩ sẽ không còn bao giờ tôi có dịp được nói chuyện với Chủ tịch về những vấn đề mà tôi cũng như Chủ tịch đều quan tâm vì nó liên quan đến hạnh phúc và số phận tương lai của nhân dân và vì thời gian nói chuyện với Chủ tịch không bị hạn chế, tôi tranh thủ được có vinh dự này để trình bày với Người một số ý kiến xuất phát từ đầu óc một người trí thức yêu nước và chăm chú theo dõi quá trình những biến đổi đang diễn ra trong đất nước ta. Như Chủ tịch đã nhận thấy những suy nghĩ của tôi không phải bắt nguồn từ một học thuyết có giá trị và nổi tiếng như thế nào. Tôi không bị giam mình trong một đảng phái chính trị nào, không bị gò bó trong một giáo lý cứng nhắc nào, tôi có thể giữ được tính độc lập suy nghĩ của mình và để tâm nghiên cứu tình hình hiện nay, để rút ra những chỗ không hay cần kịp thời sửa chữa trước khi nó có thể gây tác hại xấu và dẫn tới hành động phá hoại. Với tất cả tấm lòng chân thành và thiện ý, tôi đã đề nghị một số biện pháp điều trị về chính trị xã hội. Những biện pháp đó không mang dấu ấn lý thuyết chính thống hiện nay và có thể làm cho không ít những người đang nắm quyền lực bị sốc và bực dọc. Mặc kệ, thưa Chủ tịch, dù là phượng hoàng bay lượn trên trời cao, hay con giun bò trên mặt đất, tất cả đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước lịch sử”.
Tôi quan sát Chủ tịch trong khi Người ngồi sâu trong chiếc ghế bành bằng mây, thỉnh thoảng hít một hơi thuốc lá, nghe tôi nói với một sự chú ý làm tôi cảm động. Con mắt Người mơ màng, tưởng như bay bổng xa nơi trần thế. Điếu thuốc lá tàn, Người tựa tay trên thành ghế bành, một tay vuốt ve chùm râu nhỏ. Suốt buổi thuyết trình của tôi, Người không tỏ một sự phản ứng nào, hoặc tán thành, hoặc không tán thành. Có lẽ Người muốn cân nhắc sự suy xét của Người, chọn lọc cái hay và cái dở, giữ một thái độ trung lập và khách quan, một thái độ cẩn thận và kín đáo, để phân tích tốt hơn nội dung những lời tôi nói, để thấu hiểu ý nghĩa đã diễn tả rõ ràng, và cả những ẩn ý trong từng câu, từng chữ. Trước mặt tôi là một nhân vật quan trọng hiểu rõ giá trị một cử chỉ, một ý định, và trên cương vị một lãnh tụ, chịu trách nhiệm về số phận cả một dân tộc, mà vì vậy không thể tự cho phép mình, qua một giọng nói nào, một nét mặt nào, một động thái nào của con mắt hoặc bàn tay, biểu thị một dấu hiệu vội vã, nhẹ dạ, tự phát, thiếu suy nghĩ, không tự kiềm chế được và bật ra từ bề sau tình cảm. Nhân vật đó giữa được tự chủ một cách tuyệt vời và có một bản lĩnh hoàn hảo.
* Đầu đề do tòa soạn đặt








