Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 24/05/2007 00:12 (GMT+7)

Có thể hiểu được vũ trụ hay không?

Einstein luôn ngạc nhiên cho rằng: “Điều khó hiểu nhất là vũ trụ có thể hiểu được (Das ewig Unbegreifliche an der Welt ist ihre Begeiflich keit). Trong nhiều thời điểm, người ta tưởng chừng như có thể hiểu được mọi vật. Trong sinh học, sau khi giải mã được bộ gen, thì dường như sự sống và ý thức đã nằm trong tầm tay của khoa học. Song có phải như thế hày không? Trong toán học, vật lý cũng như trong sinh học, có nhiều lỗ đen thuộc phạm vi bất khả tri.

Câu nói của Einstein chứa đựng một nghịch lý: nếu chúng ta không hiểu được vì sao vũ trụ có thể hiểu được thì điều này có nghĩa là vũ trụ không thể hiểu được như chúng ta đã tưởng. Cho rằng vũ trụ có thể hiểu được gần như là tuyên ngôn tận thế của triết học. Ngay trong toán học, ngôi đền thiêng của trí tuệ cũng phát sinh rất nhiều lỗ đen bất khả tri.

Những lý do nào để tin rằng thế giới có thể hiểu được?

Theo Planton thì vũ trụ có thể hiểu được vì vũ trụ có một cấu trúc và Đấng sáng tạo phải là một nhà toán học để có thể xây dựng được cấu trúc đó. Và tư tưởng này đã thống trị trong nhiều thế kỷ. Người ta tìm thấy tư tưởng này ở Spinoza & Leibniz (thế kỷ XVII). Tư tưởng này biểu hiện trong việc ứng dụng thành công đối xứng vào các lý thuyết toán học và vật lý. Người ta không thể không ngạc nhiên khi thấy các hạt cơ bản có đối xứng nội tại SU (3), do nhà vật lý người Mỹ Murray Gell – Mann tìm ra. Dựa trên đối xứng này người ta đã có thể tiên đoán sự tồn tại của những hạt mới. Như vậy, có những phần của vũ trụ có thể hiểu được? Các nhà vật lý hiện đại còn có thêm một lý lẽ nữa để giải thích nghịch lý chứa trong câu nói của Einstein. Đó là nguyên lý vị nhân (anthropic principle – anthropos có nghĩa là con người). Theo nguyên lý này vũ trụ có thể hiểu được là một điều có thể giải thích được: vũ trụ phải như thế này thì mới có sự sống, có con người để đặt ra những câu hỏi về vũ trụ (xem Lược sử thời gian của S.Hawking [3]). Song những điều nói trên liệu có đúng dưới những quan điểm hiện đại hay không?

Gregory Chaitin và lý thuyết tin học hiện đại

Gregory Chaitin đã gắn liền vấn đề hiểu vũ trụ với lý thuyết tin học. Trải qua cả nghìn năm nhiều nhà toán học hy vọng rằng, vào một ngày nào đó, trong toán học sẽ tạo ra được TOE (Theory of Everything – Lý thuyết của tất cả): tồn tại một tập hữu hạn các định đề (axiom) và quy tắc từ đó có thể suy ra mọi chân lý của toán học. Song vào năm 1930 hy vọng trên đã bị dập tắt vì Đinh lý Không đầy đủ (Incompleteness Theorem) nổi tiếng của Kurt Goedel: Trong mọi lý thuyết toán học, luôn luôn tồn tại những khẳng định không chứng minh được là đúng hay sai.

Xuất phát từ các công trình của Goedel, Leibniz và Turing, Gregory Chaitin đã đi đến số Omega, một con số phức hợp (complex) mà không một lý thuyết toán học nào mô tả được. Chaitin đã chứng minh rằng, sự ngẫu nhiên vốn ngự trị trong cơ học lượng tử cũng tồn tại trong lòng của toán học.

Greory Chaitin đã lấy những ý tưởng về phức hợp (complexity) và ngẫu nhiên (randomness) do Gottfriend N.Leibniz đề ra năm 1686 và tích hợp với lý thuyết thông tin hiện đại để chứng minh rằng, không tồn tại một TOE cho mọi toán học. Định lý Không đầy đủ của Goedel đã gây ấn tượng mạnh đến Gregory Chaitin, Goedel phủ nhận quan điểm của David Hilbert, nhà toán học gần một thế kỷ trước đã đưa ra tuyên ngôn là có môt TOE cho toán học, một tập nguyên lý từ đó có thể suy ra mọi chân lý toán học. Goedel đã chứng minh rằng, các toán học chứa những khẳng định mà chúng ta không thể chứng minh được theo cách của Hilbert. Thế nào gọi là phức hợp (complexity).

W.Leibniz, trong chương VI của Discourse on Metaphysics (Thảo luận về siêu hình học), cho rằng, một lý thuyết đơn giản hơn tổng dữ liệu mà nó giải thích, nếu không, nó không giải thích được điều gì cả. Điều này dẫn đến các khái niệm phức hợp và đơn giản. Hiện nay tính phức hợp (complexity) và tính đơn giản (simplicity) đã được lượng hoá. Năm 1965, Gregory Chaitin đưa ra lý thuyết thông tin thuật toán (algorithmic information theory) để giải bài toán đo độ phức hợp. Sau đây là ý tưởng chính của lý thuyết đó:

Mọi định luật khoa học giải thích hoặc mô tả những đối tượng toán học hoặc một tập dữ liệu đều có thể biểu diễn bằng một chương trình máy tính. Kích thước của một chương trình máy tính là số bit chứa trong chương trình đó. Như chúng ta đã biết, máy tính lưu trữ thông tin dưới dạng dãy các số 0 và 1. Mỗi số 0 và 1 đó gọi là bit. Một chương trình máy tính càng phức tạp thì kích thước càng lớn và số bit càng nhiều. Nếu một hiện tượng chịu sự điều khiển của một định luật thì định luật này có thể mã hoá thành một chương trình máy tính. Định luật càng đơn giản thì chúng ta hiểu hiện tượng càng sâu sắc và càng dễ sử dụng. Tính đơn giản hay không đơn giản được phản ánh trong kích thước của chương trình. Mặc dầu sống trước thời đại thông tin 250 năm, Leibniz đã đến gần ý tưởng hiện đại thông tin thuật toán (algorithmic information). Chúng ta đoán nhận theo quan điểm hiện đại hai ý tưởng của Leibniz đề ra vào năm 1686.

Thứ nhất, chúng ta đo độ phức hợp bằng các bit thông tin nghĩa là bằng các số 0 và 1.

Thứ hai, thay vì các phương trình toán học chúng ta dùng những chương trình máy tính trong hệ nhị phân (binary).

Theo ý tưởng của Leibniz thì nếu có một lý thuyết thực sự thì phải có một sự nén (compression) nghĩa là chương trình máy tính tương ứng phải có kích thước nhỏ hơn dữ liệu output, cả hai đều đo bằng các bit 0 và 1. Trong trường hợp không tồn tại một lý thuyết thực sự nào thì dãy bit đó được gọi là ngẫu nhiên về thuật toán (algorithmically random) hoặc là bất khả quy, là không rút gọn được (irreducible).

Cần chú ý rằng, các ý tưởng trên cũng được đưa ra đồng thời bởi A.N. Kolmogorov.

Bài toán dừng của Turing

Khi sử dụng máy tính chúng ta đứng trước một bài toán cơ bản: cho một chương trình nào đó, liệu có một thuật toán (algorithm) để thấy được chương trình sẽ dừng hay không, hay nó chạy đến muôn đời?

Ví dụ xét bài toán “Lấy một số nằm giữa 1 và 10, thêm 2 vào số đó và tính kết quả”, chương trình này sẽ dừng sau 10 bước, song nếu lấy bài toán “lấy một số không âm nhân nó với 2 đến lúc có được một số lớn hơn 1”, chương trình này sẽ dừng nếu số x > 0, nếu x = 0, chương trình sẽ chạy mãi.

Đối với những bài toán phức tạp hơn liệu chúng ta có đủ thời gian để chờ xem chương trình có dừng hay không? Đợi một tuần, một tháng, một năm, một tỷ năm? Tồn tại hay không một chương trình kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hại để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước cũng sẽ dừng? Turing chứng minh rằng, không tồn tại một chương trình như thế!

Số Omega

Ta hãy xét ví dụ sau đây: giả sử rằng, trên toàn thế giới chỉ có 2 chương trình dừng và dãy bit của hai chương trình đó là 11001 & 101. Lựa chọn ngẫu nhiên một chương trình có nghĩa là, chọn ngẫu nhiên các dãy bit nói trên. Ta có thể thực hiện việc lựa chọn đó bằng cách tung một đồng xu và lấy là 1, nếu mặt phải, và lấy là 0, nếu có mặt trái. Như thế, xác suất để thu được một bit nào đó bằng ½. Vậy xác suất để thu được các chương trình 11001 & 101 là ½ x ½ x ½ x ½ x ½ = 1/25 và ½ x ½ x ½ = 1/23. Cho nên xác suất để chọn ngẫu nhiên một chương trình là 1/23 + 1/25 = 0.15625.

Trong thực tế sẽ có nhiều chương trình dừng và số Omega sẽ là tổng của những số hạng có dạng ½ N. Số w là một số được định nghĩa chặt chẽ về mặt toán học ( w = 2 – p, cộng theo p là số bit của chương trình dừng). Vậy số Omega chính là xác suất để máy tính sẽ dừng sau một thời gian khi dãy các bit được chọn một cách ngẫu nhiên. Vì sao số Omega lại bất khả quy?

Đây là tính chất đáng ngạc nhiên của số Omega, số này là bất khả quy, hay nói cách khác, là ngẫu nhiên về mặt thuật toán và số này là vô cùng phức hợp (infinitely complex). Vì sao như vậy: giống như mọi con số, ta có thể viết Omega dưới dạng một dãy số 0 và 1 (trong hệ binary). Số Omega sẽ là một dãy số vô cùng trong hệ binary giống như căn số bậc hai của số 2 trong hệ thập phân

Ö 2 = 1.4142135623730950488….

Song chúng ta có một thuật toán để thu được số đó theo phép lặp của Newton( Newton ’s iteration). Nếu có đủ thời gian, thì chương trình tính sẽ thu được bất kỳ con số nào trong dãy thập phân nói trên và chương trình sẽ dừng lại. Có điều gì tương tự như vậy đối với số Omega chăng? Có một chương trình hữu hạn nào có thể tính được các bit trong dãy binary của số Omega?

Nếu thế khi biết được N bit đầu trong dãy nhị phân của Omega chúng ta có thể giải bài toán dừng đối với mọi chương trình có kích thước đến N bit. Như thế vì chúng ta có một chương trình hữu hạn cho mọi bit của Omega, chúng ta cũng có một chương trình để giải bài toán dừng cho mọi chương trình bất kể kích thước của chúng. Nhưng điều này như chúng ta đã biết, là không thể được. Như vậy, một chương trình như thế là không tồn tại.

Theo định nghĩa trên, Omega là bất khả quy, hay nói cách khác, nó là một số ngẫu nhiên về thuật toán (algorithmically random). Omega không thể nén (compressed) trong một lý thuyết hữu hạn. Mặc dầu Omega có một định nghĩa toán học chính xác, song dãy bit vô cùng của nó không thể tính được bằng một chương trình hữu hạn, đó là một dãy bit vô cùng và ngẫu nhiên.

Vì sao toán học không có TOE?

Một lý thuyết toán học gồm một tập định đề và quy tắc. Có thể nói thêm định đề chính là những nguyên lý bất khả quy. Như thế TOE sẽ là một tập như thế từ đó ta có thể suy ra mọi chân lý toán học. TOE bắt buộc phải có một độ phức hợp hữu hạn vì nếu không thì TOE đã không còn là một lý thuyết nữa! Và TOE phải cho phép tính được số Omega. Song điều này không thể xảy ra vì như chúng ta biết Omega là một số có độ phức hợp vô cùng (infinite complexity).

Những tin buồn cho TOE của vật lý

Gregory Chaitin phát hiện thấy trong lòng toán học có nhiều lỗ trống. Đây là một tín hiệu xấu cho vật lý học. Vật lý học có tham vọng mô tả Vũ trụ hoàn chỉnh và chính xác. Toán học lại là ngôn ngữ của Vật lý, như thế những phát hiện của Chaitin buộc rằng một “Lý thuyết của tất cả” (TOE) là không thể có được. Điều này quả là một viên thuốc đắng khó “nuốt”, song chính Steven Weiberg, giải Nobel Vật lý, tác giả cuốn sách Những giấc mơ về một lý thuyết tối hậucũng chấp nhận viên thuốc đắng này, ông nói: “Chúng ta không bao giờ tin chắc rằng lý thuyết tối hậu của Vật lý là toàn bích về mặt toán học – We willl never be sure that our final theory is mathematically consistent”

Như vậy những lý thuyết đầy triển vọng như lý thuyết siêu dây cũng thuộc phạm trù này. Kỳ vọng của những nhà vật lý lý thuyết về một phương trình tối hậu phải chịu áp lực nặng nề này.

Vật lý và toán học đều là những khoa học thuần tuý thực nghiệm (truly empirical) và gần thực nghiệm (quasi – empirical)!

Thoạt nhìn người ta nghĩ rằng vật lý và toán học rất khác nhau.

1) Vật lý mô tả vũ trụ và phụ thuộc vào những quan sát. Ví dụ định luật Newton hay Mô hình tiêu chuẩn của các hạt cơ bản phải được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm và chúng được xem như những nguyên lý ban đầu không chứng minh được (giống như những định đề). Trong vật lý người ta nén các dữ liệu quan sát được thành định luật.

2) Toán học trái lại không phụ thuộc vào vũ trụ. Ví dụ tính chất của những số nguyên hay số thực không phụ thuộc vào bản chất của thực tại khách quan. Toán học là đúng cho mọi vũ trụ. Trong toán học người ta cũng nén mọi kết quả tính toán thành những định đề. Nếu Hilbert đúng, thì toán học sẽ là một hệ kín, không còn không gian cho những ý tưởng mới.

Song những ý tưởng mới về vật lý và toán học đã hình thành. Năm 1956 nhà toán học người Hung, Imre Lakatos cho rằng, toán chọ cũng là một khoa học gần thực nghiệm. Ví dụ, giả thuyết Goldbach cho rằng mọi số lớn hơn 2 đều có thể viết thành tổng của hai số nguyên tố hiện nay vẫn chưa chứng minh được, mặc dầu đã được kiểm nghiệm đến số 1014.

Gregory Chaitin đưa ra sơ đồ sau đây

Vật lý: lý thuyết – các tính toán – các tiên đoán cho những quan sát.

Toán học: Định đề - các suy luận logic – các định lý.

Khoa học tính toán: Chương trình - chạy máy tính – output.

Vật lý và toán học đều tương tự việc chạy một chương trình trên máy tính. Chaitin cho rằng giữa vật lý và toán học không có sự khác biệt về nguyên tắc: cả hai đều là những khoa học thực nghiệm (Chaitin dùng chữ thuần tuý thực nghiệm cho vật lý và chữ gần thực nghiệm cho toán học song thực sự hai chữ đó không khác nhau về mặt nguyên tắc). Gregory Chaitin khuyên các nhà toán học và vật lý không nên cô lập mình mà hoà cùng nhau để tìm thấy những nguồn ý tưởng mới tương liên.

Tài liệu tham khảo:

[1] Gregory Chaitin, L’Univers est-il intelligeble? La Recherche, tháng 12, 2003.

[2] Gregory Chaitin, The Limits of Raison, Scientific American, tháng 3, 2006.

[3] Steven Hawking, Lược sử thời gian, bản dịch của Cao Chi và Phạm Văn Thiều.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.