Có thể "biến" hệ thống lò quay xi măng thành lò xử lý rác thải
Nhà máy Xi măng Bình Phước (Công ty Xi măng Hà Tiên 1) công suất 1,8 triệu tấn năm đang trong quá trình xây dựng. Điều khác biệt duy nhất so với các dự án xi măng đã và đang xây dựng là việc ông Nguyễn Ngọc Anh, Giám đốc Công ty Hà Tiên 1 lúc đó kiên quyết bảo vệ quan điểm xây dựng một nhà máy xi măng có sử dụng công nghệ đốt rác phế thải, thay thế một phần nhiên liệu truyền thống là than.
Nhưng khi đưa yêu cầu này vào trong công nghệ, các nhà cung cấp thiết bị và công nghệ nước ngoài coi đây là cái cớ để nâng giá, gây khó khăn trong việc thương thuyết các gói thầu. Nhưng cuối cùng thì Công ty xi măng Hà Tiên 1 vẫn bảo vệ được quan điểm của mình với tổng đầu tư dự án không cao hơn các dự án khác cùng loại.
Ông Ngọc Anh cho biết, việc xử lý rác thải không nằm ở công nghệ chính của nhà máy, mà nằm ở các thiết bị đầu đốt, buồng đốt... Cho nên công nghệ và thiết bị của xi măng Bình Phước không khác gì công nghệ, thiết bị sản xuất xi măng truyền thống. Nhưng các thiết bị đốt được đầu tư để có khả năng sử dụng được rác. Mặt bằng nhà máy, vị trí công nghệ cũng được dự tính sẵn cho việc lắp đặt thêm thiết bị cần thiết khi thực hiện đốt rác, để khi triển khai không phải thay đổi công nghệ nhiều và không phải dừng sản xuất cải tạo. Tuy nhiên việc vận hành nhà máy đòi hỏi phải thận trọng hơn và sẽ phải có một quy trình đặc biệt cho quá trình phối rác đốt, bởi rác gồm nhiều loại, đa dạng nếu không cẩn trọng thì tro và các thành phần kim loại nặng sẽ làm thay đổi các chuyển hóa trong clinker và còn thải thêm khí độc hại ra môi trường.
Điều may mắn của ngành công nghiệp xi măng là phải nung luyện đá ở nhiệt độ rất cao với thời gian lưu nhiệt tới 15 giây, đủ sức phân hủy hoàn toàn các loại rác thải độc hại, lại ở môi trường kiềm tính, trung hòa dễ dàng các gốc axit của rác và thải ra khí C0 2cùng hơi nước. Nếu vận hành lò nung clinker bảo đảm các thông số để các phản ứng ôxy hóa khử xảy ra hoàn toàn trong lò, thì các loại khí độc hoại như Cl, N0x, S0x, C0 sẽ được “tiêu hủy” gọn trong lò; các kim loại nặng, độc hại cũng được chuyển hóa thành phối liệu xi măng.
Tuy nhiên các doanh nghiệp sản xuất xi măng không phải là doanh nghiệp môi trường. Liệu lợi ích kinh tế của việc đốt rác có đủ mạnh để họ chấp nhận “ôm” thêm những phát sinh do sử dụng rác thay thế một phần nhiên liệu hay không? Ông Ngọc Anh cho biết không một nhà đầu tư nào dám tính toán trước lợi ích của đốt rác trong dự án nghiên cứu khả thi, để khẳng định thời gian khấu hao sẽ rút ngắn được bao nhiêu, bao lâu thì có lãi... vì công nghệ nền vẫn phải sử dụng nhiên liệu hóa thạch làm gốc. Chỉ sau khi nhà máy hoạt động ổn định, việc tìm cách thay thế một phần nhiên liệu bằng rác không những giúp cho xã hội không phải đầu tư những lò thiêu đốt rác chuyên dụng khá đắt tiền, mà còn tạo cơ hội cho các nhà sản xuất xi măng hạ giá thành sản phẩm thông qua việc nhận các hợp đồng xử lý rác thải các loại, bù đắp chi phí phải bỏ ra mua than. Và nếu bù đắp được hoàn toàn chi phí này, thì sẽ giảm giá khoảng 25-30% giá thành sản xuất so với sử dụng than. Đó là một con số rất có ý nghĩa về kinh tế đối với các nhà sản xuất xi măng lớn, khi phải cạnh tranh về giá trong nền kinh tế thị trường.
Theo ông Ngọc Anh, tất cả nhà máy xi măng lò quay đều có khă năng tham gia xử lý rác thải cũng như dùng rác thải bù đắp một phần chi phí phải bỏ ra để mua nhiên liệu hóa thạch. Việc ứng dụng này, thế giới đã làm từ lâu và không có gì là khó khăn. Cái khó là ý thức của người lãnh đạo doanh nghiệp cộng thêm một chút hiểu biết. Còn đối với các dự án chuẩn bị đầu tư nếu tính trước khả năng xử lý rác như ở xi măng Bình Phước thì thật tuyệt vời. Vì điều đó chỉ có lợi cho họ mà thôi. Vậy sao cần phải “bắt buộc” họ thực hiện, trừ phi họ thiếu cả “tâm” và cả “tầm”.
Nguồn: Báo Tài nguyên và Môi trường, 10/7/1007, tr 4








