Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/12/2011 20:43 (GMT+7)

Chuyện nô lệ xưa trên đất Tây Nguyên

Vậy nguồn gốc người nô lệ ở Tây Nguyên được hình thành từ đâu? Thuở xưa, giữa các làng khác nhau, các tộc người khác nhau có những mối thù kéo dài qua nhiều thế hệ, tồn tại nạn “giặc làng”, “giặc mùa” dai dẳng. Lúc bấy giờ, giữa các tù trưởng thường có tranh chấp đất đai, cướp bóc tài sản, nô lệ của nhau khiến xung đột xảy ra liên miên. Hằng năm thường diễn ra những cuộc cướp làng. Làng thắng có thể chém đầu người làng thua mang về tế thần, có thể bắt người làng thua mang về làm nô lệ. Nhưng làng thắng đến lượt nó, lại có thể bị tấn công bất ngờ và có thể bị bắt làm nô lệ cho làng khác. Từ đó nảy sinh một tầng lớp nô lệ gia đình có nguồn gốc từ tù binh. Những cuộc “chiến tranh làng mạc” vẫn còn được nhắc đến trong sử thi (khan), truyện cổ, lời nói vần… của các dân tộc. Để chuẩn bị sẵn sàng xuất phát ra đi tấn công, hoặc chống lại cuộc tấn công, đêm dêm trai làng thường ngủ tại ngôi nhà làng (rông). Nhà rông của người Tây Nguyên còn có chức năng phòng thủ của cộng đồng làng, đối phó với những cuộc tấn công của làng khác.

Cũng không thiếu những tù trưởng (Mtao) có được tôi tớ không phải là do đi gây chiến tranh để chiếm đoạt mà là trong cộng đồng có những ai đó nợ của cải, chẳng may làm cháy nhà, đánh nhau gây án mạng, họ và gia đình không có khả năng đền bù nên thường người giàu có bỏ của cải ra đến bù thay rồi mang người được cứu về nhà làm hlun (nô lệ) cho người mình. Tuy là tôi tớ nhưng những người này được đối xử như con cháu trong nhà. Đó là những ngừơi đàn bà quấn váy ngắn, ở trần; những người đàn ông vận khố ngắn, ở trần, về mùa lạnh thì choàng thêm tấm mền cũ.

Ở vùng dân tộc Kơ Ho, con ở (cau vơ roa) và tôi tớ, nô lệ (dik) được gia chủ cũng như xã hội bên ngoài đối xử bình đẳng trên tinh thần tương thân tương ái. Họ được coi là một thành viên thực thụ trong gia đình người chủ và có thể lấy con trai hay con gái của gia đình người chủ làm vợ, làm chồng mà vẫn không bị dư luận bên ngoài gièm pha hay lên án. Luật tục M’nông qui định rằng nợ nần dù lâu ngày cũng phải trả, mâu thuẫn, xích mích phải được giải quyết để xóa bỏ thù hằn giữa hai bên. Nếu không trả nợ được thì buộc người thân trong gia đình hoặc bản thân người phạm tội phải đi ở đợ, làm tôi tớ cho người mình mắc tội: Nợ bằng dik trả đủ bằng dik/ Nợ bằng chiêng trả đủ bằng chiêng/ Nợ bằng ché trả đủ bằng ché/ Trả không đủ, phải chịu ở đợ. Luật tục Ê đê, M’nông đều đã quy định rõ việc đền mạng cho một người nhà giàu cao gấp bội phần so với mạng một người nhà nghèo.

Ở Tây Nguyên ngày xưa, chiêng, ché, voi, trâu có thể đổi được nô lệ. Có loại chiêng chỉ ngang giá vài con trâu, nhưng cũng có loại chiêng giá trị tới 40 con trâu hay một tá tù binh, nô lệ. Cá biệt có một gia đình ở xã Cư Drăm (Krông Bông, Dak Lak) có một chiếc chiêng char ph’hách cực kỳ quý hiếm của dòng họ để lại giá trị tương đương 12 người nô lệ. Loại chiêng này được thiêng hoá và đồng bào không bao giờ bán. Chiêng Tha của người Xơ Đăng, chiêng Knah của người Ê đê có thể mang giá trị quy đổi lên tới 1-2 con voi hoặc 20-40 con trâu hoặc vài nô lệ.

Đối với đồng bào, voi là “tài sản biết đi”, là tài sản đẻ ra mọi thứ tài sản khác, thậm chí cả nô lệ. Đối với đồng bào Tây Nguyên, con voi quý ngang với sinh mạng người. Do đó, theo luật tục M’nông, hình phạt bồi thường hiện vật nặng nề nhất là phạt voi. Kẻ phạm trọng tội như cố ý giết người, đốt cháy làng buôn, đầu độc thì phải bồi thường thiệt hại tài sản, tính mạng bằng một con voi. Người nào làm mất voi, chết voi của người khác, nếu không có tài sản đền bù thì buộc phải làm nô lệ tôi tớ cho chủ voi. Khi nào người nô lệ này làm ra của cải tương đương với giá trị con voi đã mất của chủ thì mới được trả tự do. Nô lệ cũng là một thứ tài sản của các thủ lĩnh buông làng, thể hiện quyền uy của họ. Việc chiếm hữu, tra đổi nô lệ luôn diễn ra giữa các tù trưởng. Vua voi Khunjunop (Y Thu) cũng là người từng dùng voi để chuộc lại nô lệ từ tay các tù trưởng trong vùng. Tương truyền, ông từng dâng một con voi trắng quý giá để chuộc lại một nô lệ nữ tên là Giá Vầm. Bà Giá Vầm tuy cai quản nhiều rừng núi đất đai, nhưng bà bị một bộ tộc người Gia Rai bắt làm tù bình. Để chuộc người tù trưởng có đất đai rộng lớn này, ông Y Thu đã dùng voi trắng làm lễ vật kèm theo lờ thề kết giao hoà hoả giữa hai bộ tộc và xin nhận người Gia Rai “làm cha làm mẹ”. Biết ơn ông, bà Gia Vâm cắt một phần đất trong lãnh địa của mình cho Y Thu. Có đất, ông Y Thu liền tụ tập những người Êđê, M’nông, Lào… sống trên các đảo Par, đảo Klau giữa sông Sêrêpôk về một nơi trù phú, sau này gọi là Buôn Đôn. Vì thế, thời Y thu lên làm tù trưởng, những xung đột về đất đai, tài sản, nô lệ…giữa các làng, các dân tộc được xoá bỏ. Các hoạt động săn bắn, hội voi đã góp phần tạo dựng và vun trồng sự đoàn kết giữa các dân tộc.

Y Thuột, gọi theo tên con là Ama Thuột, vị tù trưởng nổi tiếng người Êđê, tên ông sau này được lấy đặt cho thành phố thủ phủ cao nguyên Buôn Ma Thuột – là người giàu có nhất vùng thời đó. Trong nhà nuôi nhiều nô lệ, họ được lấy vợ, lấy chồng, sinh con đẻ cái dưới sự bao bọc của tù trưởng này. Do không có con gái nên ông đã nhận một nữ nô lệ làm con nuôi. Y Nuê Buôn Krông chính là con trai của cặp vợ chồng nô lệ, sau này được vị tù trưởng đáng kính này “trả tự do”, được cho đi học tại trường Pháp – Đê, được sớm giác ngộ cách mạng, tham gia kháng chiến, được cách mạng cử đi chọ, trở thành giáo sư – bác sĩ nổi tiếng với bí danh Nguyễn Ái Phương (từng giữ chức Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên). Hay thiếu tướng Y Blôk Êban cũng xuất thân từ nô lệ, sau này theo cách mạng, là một trong những người đầu tiên tham gia khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng 8-1945 ở Buôn Ma Thuột, trở thành cán bộ lãnh đạo cách mạng giỏi của Tây Nguyên.

Ngày nay, các dân tộc vùng Trường Sơn – Tây Nguyên đang cùng đất nước phát triển tiến bộ, quan hệ giữa người với người bình đẳng, không còn dấu vết của tù trưởng và nô lệ. Những hủ tục xưa cũ đang dần dần biến mất trong đời sống cộng đồng.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.