Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam bộ
Vấn đề nước Phù Nam
Căn cứ vào những ghi chép trong các thư tịch cổ Trung Quốc thì Phù Namlà một quốc gia nằm ở phía nam của Lâm Ấp (Champa), nghĩa là tương đương với vùng đất Nam bộ ngày nay (3). Cũng dựa vào các thư tịch cổ, các nhà khoa học đã thống nhất nhận định rằng, nước Phù Nam xuất hiện vào đầu công nguyên và biến mất vào khoảng thế kỷ thứ VII (4). Mùa xuân năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret đã tiến hành một cuộc khai quật có ý nghĩa lịch sử ở khu vực gần núi Ba Thê (nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang). Từ sau cuộc khai quật này bắt đầu xuất hiện khái niệm văn hoá Óc Eo, và một cách tự nhiên các nhà khoa học đã dễ dàng đi tới nhận định rằng những di vật thuộc văn hoá Óc Eo là di tích văn hoá vật thể của nước Phù Nam .
Một vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định chủ nhân của văn hoá Óc Eo. Trước đây người ta thường nói mà không chứng minh được chủ nhân của nền văn hoá này là tổ tiên của người Khmer. Nhưng dưới ánh sáng của những nghiên cứu mới thì vấn đề không phải như vậy. Trước hết, tất cả những di tích thuộc văn hoá Óc Eo có thể dễ dàng nhận thấy là khác biệt với văn hoá Khmer. Những dấu vết của Chân Lạp trên đất Nambộ không thể hiện là sự phát triển liên tục của văn hoá Phù Nam (5). Về phong tục tập quán, sử liệu Trung Quốc cũng cho biết rằng, tang lễ và hôn nhân của Phù Nam gần giống với Lâm Ấp (tức Champa).
Về mặt lịch sử, các tư liệu trong thư tịch cổ Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp (quốc gia của người Khmer). Sử ký của nhà Tuỳ chép rằng nước Chân Lạp ở về phía tây nam Lâm Ấp, nguyên là một chư hầu của Phù Nam . Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam (6). Sử ký nhà Đường cũng chép: “ Trong nước [Phù Nam ] bấy giờ có thay đổi lớn. Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền Nam, trú ở thị trấn Na Phất Na”(7). Những sự kiện được chép trên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII. Căn cứ vào sự kiện 627 Phù Namcòn đến tiến cống nhà Đường lần cuối cùng, các học giả cho rằng đó có thể coi đó là năm sớm nhất nước Phù Nam bị tiêu diệt”.
Như vậy, Chân Lạp là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mêkông, khu vực gần Biển Hồ, lấy nông nghiệp làm nghề sống chính. Còn Phù Nam là một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy. Lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp do kết quả của những cuộc chiến tranh.
Vùng đất Nam bộ dưới thời Chân Lạp
Sau khi chiếm được Phù Nam , vùng đất này được gọi là Thuỷ Chân Lạp (9). Việc cai quản vùng lãnh thổ mới đối với Chân Lạp hết sức khó khăn. Trước hết, đây là một vùng đồng bằng mới bồi lấp còn ngập nước và sình lầy, người Khmer với dân số ít ỏi chưa thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn. Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp cũng còn đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Vào nửa sau thế kỷ thứ VIII, quân đội Srivijaya của người Java đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương. Kết cục là Thuỷ Chân Lạp bi quân Java chiếm. Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya. Cục diện này đến mãi năm 802 mới kết thúc. Tuy nhiên người Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển các vùng trung tâm truyền thống của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mêkông và hướng nỗ lực bành trướng sang phía tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX cuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm lên cả khu vực sông Chao Phaya. Trong khi đó qua các di tích khảo cổ học, dấu tích của văn hoá Khmer và văn minh Angkorở vùng Đồng Nai - Gia Định hết sức mờ nhạt (10).
Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trung tâm ở vùng lục địa, sau mấy thế kỷ thuộc Chân Lạp, đến thế kỷ XIII theo Chu Đạt Quan, vùng đất Nam bộ vẫn còn là một vùng đất hoang vu với những “ bụi rậm của khu rừng thấp…tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi… những cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy rẫy, hàng trăm hàng ngàn con trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm…” (11)
Bắt đầu từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Thái từ phía tây, đặc biệt là từ sau khi vương quốc Ayuthaya hình thành. Trong gần một thế kỷ Chân Lạp liên tiếp phải đối phó với những cuộc tiến công từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkorđã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng.
Công cuộc khai phá vùng đất Nam bộ.
Từ thế kỷ XVI, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kỳ suy vong, hầu như không có điều kiện quan tâm đến vùng đất còn ngập nước ở phía đông và trên thực tế đã không đủ sức quản lý vùng đất này. Trong bối cảnh đó, nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam bộ) khai khẩn đất hoang lập làng sinh sống.
Năm 1620, vua Chân Lạp chey Chetta II đã cưới con gái chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ. Đối với Chân Lạp, việc kết thân với chúa Nguyễn là để dựa vào lực lượng quân sự của người Việt lúc này đang rất mạnh nhằm làm giảm sức ép từ phía Xiêm. Với chúa Nguyễn, quan hệ hữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt, vốn đã có mặt từ trước, được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sông trên đất Thuỷ Chân Lạp và tăng cường ảnh hưởng của họ Nguyễn với triều đình Oudong.
Năm 1623, chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế. Vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này 12). Vào thời điểm đó cư dân Việt nam đã có mặt hầu khắp miền Đông Nam bộ và Sài Gòn.
Sau cái chết của Chey Chetta II vào năm 1628, nội bộ giới cầm quyền Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc. Nhiều cuộc chiến giữa các phe phái đã diễn ra với sự trợ giúp quân sự của một bên là quân Xiêm, một bên là quân Nguyễn. Những cuộc chiến ấy không những ảnh hưởng đến việc người Việt tiến hành khai phá những vùng đất hoang hoá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà trái lại, còn tạo điều kiện thuận lợi cho chúa Nguyễn thiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên vùng đất cư dân Việt đã dựng nghiệp. Trong thời kỳ này, sự thuần phục của các nhóm di thần nhà Minh đã góp phần đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổ Nam bộ. Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức việc khai phá và phát triển kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho), cho nhóm Trần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hoà - Đồng Nai. Trong vòng gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ Bà Rịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được cư dân Việt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thành trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phường sầm uất, hải cảng nhộn nhịp có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Dương, Bồ Bà (Java) tới buôn bán.
Trên cơ sở những đơn vị tụ cư đã trù mật, những trung tâm kinh tế đã phát triển, năm 1698, chúa Nguyễn đã cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất này và cho lập ra ở đây một đơn vị hành chính lớn là phủ Gia Định. Như vậy, vào cuối thế kỷ XVII chúa Nguyễn đã xác lập được quyền chủ lực của mình tại vùng trung tâm của Nam bộ, khẳng định chủ quyền của người Việt trên vùng đất mà trên thực tế, chính quyền Chân Lạp chưa khi nào thực thi một cách đầy đủ chủ quyền của mình.
Sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là vào năm 1708, Mạc Cửu ở Hà Tiên xin quy phục chúa Nguyễn. Là một thương nhân Hoa kiều ở Lôi Châu, thường xuyên tới buôn bán ở vùng biển Đông Nam Á, Mạc Cửu đã sớm nhận ra địa lý thuận lợi của vùng đất Mang Khảm (sau đổi tên là Hà Tiên), nên đã lưu ngụ lại, chiêu mộ dân sửa sang bến thuyền, mở mang chợ búa, khai phá đất đai, biến một vùng đất còn hoang vu thành một nơi buôn bán sầm uất. Lúc đầu (vào khoảng năm 1680), Mạc Cửu đã từng xây dựng quan hệ thuần phục với vua Chân Lạp, nhưng sau này thế lực Chân Lạp suy giảm, không đủ sức bảo vệ cho công việc làm ăn của cư dân vùng đất này khỏi sự tiến công cướp bóc của người Xiêm nên đã tìm đến chúa Nguyễn xin nội thuộc vào năm 1708. Năm 1757, khi đất Tầm Phong Long (tương đương với vùng tứ giác Long Xuyên) được vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng cho chúa Nguyễn để đền ơn cứu giúp trong lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua, quá trình xác lập lãnh thổ của người Việt trên đất Nam bộ về cơ bản đã hoàn thành.
Từ quá trình lịch sử trên đây, không thể quan niệm một cách đơn giản rằng chủ quyền của người Việt trên vùng đất Nambộ là do chiếm của Chân Lạp. Chứng cứ lịch sử cho thấy quốc gia đầu tiên trên đất này là Phù Nam mà cư dân chủ yếu là người Tiền - Mã Lai, đến đầu thế kỷ thứ VII mới bị Chân Lạp tiến công tiêu diệt. Tuy nhiên, Chân Lạp đã không có điều kiện để quản lý và khai thác vùng đất này. Sự sầm uất, trù phú của Nam bộ là công lao khai phá của các nhóm cư dân chủ yếu là người Việt từ thế kỷ XVII. Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá này và việc khẳng định quyền quản lý lãnh thổ là một hệ quả tự nhiên.
Quá trình thụ đắc vùng đất Nam bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình, kết hợp với đàm phán ngoại giao để khẳng định chủ quyền. Đó là phương thức được thừa nhận là phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn bản quốc tế hiện hành […].
Cơ sở pháp lý
Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Namtrên vùng đất Nam bộ thể hiện ngay trong quá trình thụ đắc lãnh thổ bắt đầu từ thế kỷ XVII. Từ giữa thế kỷ XVII, chủ quyền này được chính thức ghi nhận trong văn bản các Hiệp ước quốc tế. Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan), Miên (Campuchia) đã ký một hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Namkỳ thuộc Việt Nam . Năm sau, triều Nguyễn và Xiêm lại ký một hiệp ước có nhắc lại điều đó. Đây là hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia (13). Như vậy muộn nhất là đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam bộ là của Việt Nam.
Pháp tấn công Nam bộ rồi sau đó lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam kỳ là các sự kiện thể hiện rõ sựỹâm hại đến chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam bộ, nhưng Campuchia không có bất cứ một phản ứng gì. Trái lại, triều Nguyễn đã điều động quân đội tiến hành kháng Pháp và khi kháng chiến thất bại, đã đứng ra ký Hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1874). Đây là những chứng cớ và cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này.
Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam bộ, Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia theo luật của nước Pháp. Việc khảo sát, đo đạc trên thực địa được tiến hành bởi các chuyên gia Pháp và Campuchia. Năm 1889, giữa Pháp và Campuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý về hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia. Tất cả các văn bản pháp lý này đều khẳng định vùng đất Namkỳ hoàn toàn thuộc về Việt Nam .
Trước những thắng lợi liên tiếp của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 4 tháng 6 năm 1949, Tổng thống Vincent Aurol ký Bộ luật số 40 – 733 trả lại Nam kỳ cho chính quyền Bảo Đại. Trong Bộ luật còn có chữ ký của Thủ tướng và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp.
Giải thích những thắc mắc của vương quốc Campuchia về quyết định này, ngày 6 tháng 6 năm 1949 Chính phủ Pháp đã có thư chính thức gửi quốc vương Sihanouk, trong đó có đoạn nói rõ: “ Về pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với Campuchia để sửa lại các đường biên giới của Nam kỳ”vì “ Nam kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874… chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam… về pháp lý, Pháp có đủ cơ sở để thoả thuận với Hoàng đế Bảo Đại việc sửa đổi quy chế chính trị của Nam kỳ”.Trong bức thư đó, Chính phủ Pháp còn khẳng định: “ Thực tế lịch sử ngược lại với luận thuyết cho rằng miền Tây Nam kỳ vẫn phụ thuộc triều đình Khmer lúc Pháp tới”và “ Hà Tiên đã được đặt dưới quyền tôn chủ của Hoàng đế An Nam từ năm 1715 và kênh nối Hà Tiên với Châu Đốc được đào theo lệnh của các quan An Nam từ thế kỷ trước khi chúng tôi đến”(14).
Vậy là đến năm 1949, vùng đất Nam bộ vốn từng bị triều đình Nguyễn “bán” cho Pháp, đã được trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ Pháp còn khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với vương quốc Campuchia. Từ đó về sau chủ quyền trên vùng đất Nambộ liên tục được tất cả các Hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế như Hiệp định Gèneve (1954), Hiệp định Paris (1973) công nhận.
Như vậy, chủ quyền lãnh thổ của Nam bộ không chỉ được khẳng định bởi tính chính đáng trong quá trình thụ đắc lãnh thổ cũng như công lao của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vùng lãnh thổ đó suốt từ thế kỷ XVII đến nay mà còn phù hợp với nguyên tắc uti possidetis (tôn trọng nguyên trạng), phù hợp với thông lệ và các công ước quốc tế hiện hành.
Chú thích:
1. Bộ ngoại giao Campuchia. Sách đen. Phnôm Pênh, 1978.
2. Vann Molivann. Plan d’urgence pour la réhabilitation des ressource culturelles, humaines et economiques des Sites d’Ankor, trong tập “Conservation of Cultural Heritage and International Assistance on Asian Countries”, Nara , 1993, tr 45.
3. Lịch Đạo Nguyên. Thuỷ Kinh chú.
4. Lê Hương. Sử liệu Phù Nam . Sài Gòn, 1974.
5. Ý kiến của các chuyên gia Ramesh, Raman (Ấn Độ) và N.Karashima (Nhật Bản).
6. Tuỳ thư.
7. Tân Đường thư.
8. Lê Hương, Sđd, tr93.
9. Mã Đoan Lâm. Văn hiến thông khảo.
10. Võ Sỹ Khải. Nghiên cứu văn hoá khảo cổ Óc Eo: Mười năm nhìn lại, khảo cổ học, số 4/1985.
11. ChuĐạt Quan. Chân Lạp phong thổ ký (bản chữ Hán, mục Sơn xuyên).
12. A.Dauphin Meunier. Le Cambodge, Paris , 1965, tr 56.
13. Raoul Marc Janar Les Frontières du Cambodge contemporain. INALCO. Paris 1998, tr 89.
14. Dẫn theo Paoul Marc Jennar, Sđd, tr97.








