Chủ nghĩa thực dân: một bộ luật phi lịch sử, những con người vô trách nhiệm
Nói phẫn nộ hãy còn là nhẹ. Đúng như vậy.
Làm sao không phẫn nộ được trước sự tấn công của con quái vật thực dân tiền sử, từ nay đang ngang nhiên câu kết với những chủ đề yêu thích của phái cực hữu?
Làm sao không choáng váng khi đọc, dưới ngòi bút của các chính khách, của những nhà trí thức, những lời biện minh muôn thuở cho công cuộc thực dân bằng những con số về số kilômét đường xá, bằng số học sinh tới trường... Bàng hoàng vì những ngôn từ đó, chúng tôi, những người nghiên cứu, đã được đọc hàng ngày, chúng tôi, những chuyên gia, đã được đọc trong những bài viết trần tình của những kẻ chủ trương mở rộng thuộc địa, từ năm 1885 (Jules Ferry trước Hạ viện) (1) đến 1931 (Paul Reynaud ở Vincennes) (2). Theo nghĩa đó, nói cuộc tấn công hiện nay là phản động hoàn toàn không có gì quá đáng: là phản động, theo ngôn từ chính trị, có nghĩa là chủ trương quay trở lại những giá trị của quá khứ.
Làm sao không có cảm giác phát điên khi thấy những điều ngu ngốc đã từng bị Mauriac (3) vạch mặt chỉ tên, nay lại hồi sinh từ đống tro tàn để trở lại diễu võ trước Quốc hội? (...)
Với tư cách nhà sử học...
Ngay cái khái niệm tổng kết, dù là tích cực hay tiêu cự, cũng không thể chấp nhận. Lịch sử không phải là một toà án mà những cái “hơn” và “kém” có thể đặt lên hai đĩa cân. Nhà sử học không phải là quan toà thu thập những bằng chứng không thể chối cãi, cũng không phải là trạng sư tìm cách chống đỡ, mà là một nhà quan sát chăm chú, thu thập, chọn lọc, phân loại, sắp xếp, những yếu tố của thực tế để (tìm cách) hiểu nó hơn.
Điều đó không có nghĩa là nhà sử học không có quyền đưa ra một quan điểm một khi công việc đó được hoàn tất.
Về chủ nghĩa thực dân, đây là quan điểm của tôi.
![]() |
| Trong các đồn điền cao sư ở xứ Congo thuộc Bỉ, người ta không ngần ngại chặt tay những công nhân lười biếng. Như người đàn bà và hai người đàn ông này năm 1907. Ảnh trên tạp chí L’Histoire. |
Còn những chuyện bạo lực “cỏn con”, thường nhật, được gọi tên bằng ngôn từ xúc phạm (trong suốt một thế kỷ, số đông người dân Angiêri không bao giờ được gọi là người “Angiêri”, người Việt Nam bị gọi là “Anamít”), gọi mày tao, bạt tai, đá đít hoặc roi gân bò cho những tên bồi hay cu li “lười biếng”. Hãy coi chừng: sự xúc phạm tự ái hàng ngày đó có lẽ đã gây nên những cuộc nổi dậy của người bị trị, không kém gì những làn sóng đàn áp lớn. Bị sỉ nhục, ngậm đắng căm hờn, đấy là khái niệm trung tâm của người dân đô hộ. André Viollis (4) đã từng hỏi một nhà quốc gia chủ nghĩa Tunisi rằng ông có thật sự tin là sau khi người Pháp ra đi các ông sẽ sống tốt hơn không. Trả lời “Có thể là không, nhưng nếu những người Tunisi cần phải bị đá đít, thì hãy để cho bàn chân Tunisi đá vào đít họ”.
Với ý đồ biện minh cho cái tính từ “tích cực”, người ta đã ném vào mặt chúng ta những đường xá, nhà thương, trường học... Người ta nhắc đến những thầy giáo sống gần như nông dân ở nơi hẻo lánh của Bắc Phi, những thầy thuốc không có bệnh xá, những nữ tu chăm sóc bệnh nhân phong, Brazza (5) đã đi qua mỗi ngôi làng châu Phi (“hãy sờ lá cờ này, và người sẽ trở thành người tự do!”). Pavie (6) ra đi “chinh phục trái tim” của người Lào... Có thể một kẻ chống đối chủ nghĩa thực dân nào đó, trước kia đã có ý đồ chối bỏ tất cả những chuyện đó. Đấy không phải là khoa học, cũng không thể thuyết phục nổi.
Vâng, “nước Pháp” đã xây dựng đường xá, đường sắt... nhưng chính người “bản xứ” đã làm nên. Có cần phải đăng lại phóng sự của Albert Londres về xứ Congo - Đại dương, trong đó ông nói nguyên liệu thực sự để xây dựng là... “dân mọi đen” đó không?
Vâng, “nước Pháp” đã đặt nền móng cho cơ sở hạ tầng hiện đại hơn những nước nó chinh phục... nhưng chính người “bản xứ” phải trả giá! Những người chủ trương tổng kết tích cực có dám lôi lại ngân sách của xứ Đông Dương thuộc địa, trong đó có một số năm hơn một nửa thu nhập đã được quyết toán bằng tiền độc quyền thuốc phiện và rượu? Cụ thể ra, điều đó có nghĩa là các nhà cai trị đã buộc mỗi tỉnh, mỗi huyện, mỗi làng phải mua thuốc phiện và rượu cồn của Nhà nước hay của các đại lý!
Vâng, sự quên mình đáng nể trọng của các thầy thuốc thuộc địa, của các nhà dịch tễ học, của các nữ tu, đôi khi đã đẩy lùi bệnh tật... nhưng những bệnh khác (ho lao) lại xuất hiện.
Vâng, hàng trăm nghìn trẻ em và vị thành niên được đến trường... nhưng hàng triệu người vẫn mù chữ, cho đến tận những năm 60. Trong Đế chế Pháp, không có ở đâu việc đến trường thu hút được đại đa sốhọc sinh. Chúng tôi chờ đợi những người nói ngược lại một cách có cơ sở, nếu có thể.
Thêm nữa, chớ có che mặt chúng tôi: chính bởi vì hệ thống cần mà nó phải xây dựng - hay đúng hơn, nhìn thấy họ xây dựng - những cơ sở hạ tầng. Chính bởi vì nó cần nhân công mà phải chăm sóc nhiều người “bản xứ”. Chính bởi vì nó cần có nhân viên địa phương mà phải cho một số người đến trường. Albert Sarraut đã viết về việc này những trang hoàn toàn chân thật từ năm 1923. Nhan đề tiểu luận của ông: Khai thác giá trị của thuộc địa Pháp. Khai thác giá trị cho ai? Cả hệ thống đi tìm lợi nhuận, và cái đó không có gì đáng phê phán. Nhưng lạy trời, chớ có trang điểm những tính toán kinh tế đó bằng cái màn của tinh thần bác ái vô tư!
Chủ nghĩa thực dân quả là đã có những con người nhân đạo (được sử dụng - ngoài ý muốn của họ chăng? - để biện minh cho hệ thống), nhưng đó chủ yếu, một cách đáng sợ, là một thứ phản nhân đạo thực dụng!
Với tư cách công dân
Tôi nhận thấy cái thây ma của phái hữu Pháp đang đổ thêm dầu cho sự căng thẳng, sự hận thù biết chừng nào. Tôi thấy cần phải nói thêm rằng, những phản ứng dè đặt và hoàn toàn trong nghị viện - của cánh tả, kể cả Đảng Cộng sản Pháp, hình như còn đứng ngoài các thách thức. Bỏ qua chăng? Hãy bỏ qua... vào lúc này. Nhưng cần phải quay trở lại một ngày nào đó.
![]() |
| Bưu ảnh gửi đi từ Hải Phòng ngày 15-5-1905, lời chú thích của người gửi: “Đàn bà An Nam kéo xe lu trên đường Negrier”. Phải chăng là để thực hiện “sự nghiệp khai hoá” của thực dân? |
Một chính phủ, (có ý định) muốn giải quyết một cuộc khủng hoảng, trong đó đại đa số những người nổi loạn đều là da màu và đại đa số cảnh sát là người da trắng, đã lôi lại một đạo luật được biểu quyết từ thời chiến tranh angiêri. Không thể như thế... như thế nào? vụng về chăng? khiêu khích chăng? bị trói buộc, bị tha hoá bằng chính tiềm thức của mình?
Thế là những người lãnh đạo đất nước không có cách gì hơn là tôn vinh lại thời thuộc địa đó! Hai vị bộ trưởng, và không phải là ít hơn, của nền Cộng hoà, đã bảo trợ cho sáng kiến đó (dù bằng cách kín đáo!): bà Michèle Alliot - Marie. Quân đội - ông Philippe Douste-Blazy. Bộ ngoại giao... cánh tay vũ trang và tiếng nói của nước Pháp bên ngoài biên giới! Ta có thể thích thú khi nghĩ rằng một ngày nào đó bà ta phải giải thích về đạo luật đó trước một vị bộ trưởng Việt Nam, đã có một người ông bị thiêu cháy vì bom napan Pháp, có lẽ đang nằm tại nghĩa trang Vĩnh Yên. Chúng ta muốn trở thành một con chuột con để lắng nghe lý lẽ của ông bộ trưởng Việt Nam đó, khi ông gặp người đồng sự Angiêri, có lẽ cũng là cháu nội của một người đã chết trong cuộc chiến tranh Angiê.
Tôi được đọc, dưới ngòi bút của một nghị sĩ đảng UMP (7), rằng những “thanh niên ngoại ô” không đọc văn bản của đạo luật đó (nên hiểu ngầm: họ có việc khác để làm lúc này). Tại sao phải khó chịu? Vẫn là sự khinh miệt muôn thuở đối với những kẻ nghèo khó! Nghiêm trọng hơn, khả năng không thể hiểu được điều mà người ta không-nói-ra, có thể cả điều người ta không-nghĩ-đến (một cách duy lý), nhưng luôn luôn là một điều người ta - đã trải nghiệm! Cái đó gọi là cảm giác bất công. Nếu những người trẻ tuổi đó ghét cay ghét đắng một nước Pháp nào đó, thì không phải như ông Finkielkrault thảm hại đã khẳng định, là do một ý thức bẩm sinh nào đó. Chức năng của người trí thức không phải hay không chỉ là mô tả cái Như thế nào; mà phải làm sáng tỏ cái Tại sao. Một chủ đề thú vị, nhưng quá làm người ta bối rối.
Như vậy thì tại saomột bộ phận người Phápkhông cảm thấy mình là... người Pháp?
Bởi vì họ hiểu, với ít nhiều mơ hồ, rằng đất nước này chưa bao giờ giải quyết xong vấn đề phân biệt chủng tộc. Và chủ nghĩa chủng tộc đó đã bắt rễ trong lịch sử thuộc địa của chúng ta. Không phải lúc nào cũng vậy, không nhất thiết như vậy, không phải tuyệt đối là một thứ chủ nghĩa chủng tộc hung hăng. Nhưng bởi vì... đất nước mà họ đang sống đã tuyển mộ các cụ-kỵ của họ để chiến đấu năm 1914, để xây dựng năm 1918.
Chính bởi vì đất nước họ đang sống đã tuyển mộ những người ông của họ để chiến đấu năm 1939, để xây dựng sau năm 1945.
Rồi sau năm 1918 và sau 1945, người ta đưa họ trở về các “túp lều” của họ, hay ở nước Pháp, để họ sống trong những ngôi nhà thảm hại, tại những khu ổ chuột đầu tiên.
Chính bởi vì đất nước mà họ đang sống đã tiến hành cuộc chiến tranh với tổ tiên họ, bị gọi là những tên “Việt Minh” hay “Fellouzes” (8) (...)
Những lời tuyên bố đó, văn bản tháng 2-2005 đó và ý tưởng mà nó chuyển tải, đã đào sâu sự rạn nứt xuất hiện giữa ban ngày ban mặt từ vài thập niên nay. “Sự rạn nứt thuốc địa”. Rạn nứt giữa “người Pháp gốc” với “người bản xứ của nước Cộng hoà”, có người viết như vậy.
Những công thức đó đã bị phê phán. Điều thứ nhất ít ra cần được xem xét. Điều thứ hai có vẻ đáng được phê phán. Tác giả những dòng này đã nói một cách thoải mái hơn vì không đứng về phía sáng kiến nào cả.
Tất nhiên ta có thể trả lời rằng tình hình nước Pháp ngày nay không giống như thời thuộc địa xa xưa, rằng những “người bản xứ” xưa không có cái thú ký tên vào các bản kiến nghị và diễu hành trên đường phố. Sự thật là vậy, nhưng hơi giản lược. Vì không một lý lẽ chặt chẽ nào ngăn cản được những công thức đó phản ánh cách mà hàng trăm nghìn thanh niên đang sống trong khủng hoảng. Không ai dám gọi họ là “người bản xứ”. Nhưng họ cảm thấy mình là “người bản xứ”. Dù sao dấy cũng là một vấn đề kỳ lạ.
Trong những điều kiện đó, việc biểu quyết đạo luật tháng 2, sự xác nhận việc biểu quyết đó hồi tháng 11, là mộ hành động vô trách nhiệm, tôi cân nhắc câu chữ, thậm chí còn là một sự tấn công có cân nhắc. Trong cả hai trường hợp, đó là một tín hiệu vượt xa sự phẫn nộ bình thường của nhà sử học. Đấy là tương lai của nước Pháp đang bị thử thách, không hơn không kém.
Vì vậy, sau khi suy nghĩ kỹ, với tư cách là người sống ở nước này, tôi cảm thấy cần quyết tâm tố cáo đạo luật đó. Với tư cách là nhà nghiên cứu, với tư cách là nhà sử học, tôi xin trả lời các quý ông quý bà: “Hãy đối thoại đi!”. Với tư cách là công dân, lo lắng cho sự đoàn kết của đất nước, tôi hét to: “Đồ liều mạng!”.
Một chính giới Pháp mù quáng và điếc
Ta có thể thử hỏi về sự phục hồi đó. Cái gì đã thúc đẩy các chính khách, đáng lẽ đang có nhiều việc phải lo toan, lại muốn quay trở về với lịch sử thuộc địa, đến mức phải áp đặt một cách viết lại lịch sử?
Chính vì cái chuyện quái quỷ đó đã làm bối rối khá nhiều thế lực chính trị!
Hãy quay trở lại cái mà tôi gọi là sự rụt rè của cánh tả Pháp. Chính vì nó không thoát ra khỏi chuyện này một cách trong trắng... Đảng Xã hội đã quá thường xuyên thấy hành động của mình được chỉ đạo bằng đàn áp, từ ông Moutet đến ông Mollet. Và phe cánh Mitterand đã vui mừng lao theo vết xe của phe de Gaulle. ĐCS Pháp đã gắn tên mình với những cuộc phản đối chủ chốt chống chủ nghĩa thực dân, nhưng đôi khi lại không hé môi về chủ nghĩa quốc tế (Sétif năm 1945) hay ưu tiên sự lựa chọn của chính quốc trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh thuộc địa (quyền hạn đặc biệt năm 1956). Dù sao ngày nay nó đã quá suy yếu, đấy là sự thật, để ước mong trở thành động lực của sự phản kháng.
Còn cánh hữu truyền thống nhất của nước Pháp, tập hợp quanh hai nhánh lớn, phe de Gaulle và phe “tự do”, vẫn giữ một phần hoài niệm về quá khứ thuộc địa của nước Pháp. Chớ quên rằng, dù sao trong thế kỷ XX, nó đã liên tục tôn vinh và biện minh cho “sứ mệnh khai hoá văn minh” của nước Pháp. Chớ quên rằng nó đang mang nặng trong lương tâm công cuộc giải thực dân hoá bi thảm từ 1945-1962. Chớ quên rằng người cha đẻ của nó, de Gaulle, nếu tỏ ra thực tế năm 1960-1962, lại từng là một nhà thực dân chủ nghĩa nhiệt thành thực thụ - nhưng có tư tưởng cải cách trong những năm trước đó. Các nghị sĩ cánh hữu ngày nay là con đẻ của những trào lưu đó. Họ không hề phản bội chủ nghĩa de Gaulle, lẫn chủ nghĩa “tự do”, họ chỉ nối dài thêm mà thôi.
Hiện tượng nổi bật để đề cao giá trị của dự án luật đó và những lời bình luận kèm theo, là sự biểu dương rực rỡ của nhiều điểm tương đồng giữa tư tưởng cánh hữu với tư tưởng cực hữu.
Vì có một yếu tố cuối cùng mà tôi thấy cần phải nhắc tới, vì nó được dư luận biết đến quá ít: đó là hoạt động gây sức ép ít nhiều gắn với phe cực hữu. Mỗi người đều có trong đầu những ý đồ khó tin về sự phục hồi danh dự cho bọn OAS (9) và những kẻ sát nhân của chúng (Wissous, Toulon, Marinane). Mỗi người đều có thể ghi nhận rằng nhân cuộc khủng hoảng vừa qua, Le Pen đã tìm lại được một phần thời trai trẻ khi lên tiếng tố giác những người nhập cư. Báo chí của trào lưu đó cũng đã nói đến cuộc “chiến tranh chủng tộc”. Nhưng chiến dịch phục hồi quá khứ thuộc địa của nước Pháp đã vượt xa ý đồ của cánh cực hữu “chính thức”. Những tờ tạp chí Lịch sử, đài phát thanh, những site internet, rất nhiều những Hiệp hội đã tiến hành thành công việc vận động ngầm thực sự đối với những đại biểu được bầu ra, những chính khách, những nhà trí thức. Về mặt kỹ thuật, quả là chúng được tiến hành một cách tuyệt vời, đúng là một thứ tuyên truyền cổ động được cân nhắc đầy đủ, được thực hiện tốt. Nhưng nội dung thì thật thảm hại. Đó chỉ là sự chua chát, biểu lộ không có phê phán một quá khứ được tôn vinh, mị dân, đặc biệt là đối với những người chân-đen (10) và lính bản xứ Bắc Phi, ngày nay được sử dụng làm công cụ giống như đã từng được sử dụng từ 1954 đến 1962. Cái đó mang một tên gọi: chủ nghĩa phủ định.
Chúng ta đang sống trong những thời kỳ khó khăn. Lịch sử phê phán vừa nếm mùi thất bại không thể chối cãi. Nhưng trên lĩnh vực đó cũng như trên các lĩnh vực khác, chỉ có những người thụ động và nguội lạnh mới là kẻ thất bại.
_____________________
Chú thích của người dịch:
* Alain Ruscio, nhà sử học, chuyên gia về chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương. Đã từng là phóng viên thường trú báo L’Humanité, cơ quan của ĐCS Pháp tại Hà Nội trong nhiều năm. Hiện là giám đốc Trung tâm tư liệu về thuộc địa. Bài viết này do tác giả gửi cho Xưa & Nay, đã được đăng một phần trên báo L’Humanitésố ra ngày 3 tháng 12 năm 2005.
1.Jules Ferry, chính khách Pháp, tham gia chính phủ trong nhiều năm liên tục, từng giữ chức chủ tịch Quốc hội, chủ trương bành trướng thuộc địa, quyết định mở cuộc tấn công Bắc Kỳ năm 1884.
2. Paul Reynaud, chính khách Pháp, nhiều lần làm bộ trưởng dưới thời Đệ tam Cộng hoà, chủ tịch quốc hội năm 1940.
3. Francois Mauriac, nhà văn, nhà báo Pháp, đã viết nhiều bài lên án chủ nghĩa thực dân, giải thưởng Nobel 1952.
4. André Viollis, nhà hoạt động xã hội Pháp trước Thế chiến thứ hai, đã từng đến điều tra ở các thuộc địa Pháp, tác giả cuốn Đông Dương cấp cứunổi tiếng.
5. Pierre Brazza, nhà thám hiểm Pháp đã tìm ra xứ Congo ở châu Phi (1875-1897).
6. Auguste Pavie, nhà ngoại giao và thám hiểm Pháp, đã tiến hành thám sát dọc sông Mêkông và do đó thu phục được nước Lào (1893-1895).
7. UMP (Union pour un mouvement populaire), đảng Tập hợp vì phong trào nhân dân, thành lập từ 30 năm nay, tập hợp các phái de Gaulle, Dân chủ, Cơ đốc giáo, Cực đoan, Tự do. Hiện là đảng đa số cầm quyền ở Pháp.
8. Fellouzes, tên gọi khinh miệt chỉ những người Fellaga, là dân quân vũ trang các nước Angiêri và Tunisi nổi lên chống cuộc chinh phục Pháp.
9. OAS (Organisation armée secrète), tổ chức vũ trang bí mật của bọn chỉ huy quân sự Pháp ở Angiêri, không chấp nhận hiệp định đình chiến ký kết giữa chính phủ Pháp với phong trào kháng chiến năm 1962, đã nhiều lần tổ chức ám sát tổng thống de Gaulle. Bị toà án Pháp đặt ra ngoài vòng pháp luật, về sau được ân xá.
10. Chân-đen (Pied-noir), chỉ những người Pháp định cư qua nhiều thế hệ ở các nước Bắc Phi, vốn là những điền chủ chiếm cứ nhiều đất đai ở thuộc địa, hoặc là chủ doanh nghiệp. Sau khi Pháp trả độc lập cho những quốc gia này, họ phải trở về nước và sống khó khăn vì không còn những đặc quyền đặc lợi như trước.
Nguồn: Xưa & Nay, số 255,3/2006









