Chống lũ quét, VN cần các giải pháp đồng bộ!
Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo về lũ quét, trượt lở đất ở khu vực miền núi phía Bắc.
Hội thảo trên do Bộ Khoa học - Công nghệ (KH-CN) tổ chức vào ngày 24/11, nhằm đánh giá các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu trượt lở, lũ quét-lũ bùn đá để sớm ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ công tác cảnh báo, tiến tới dự báo cho các vùng có nguy cơ cao.
Không chỉ lập bản đồ là đủ
Theo GS Nguyễn Đức Ngữ, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật VN, đã có nhiều nghiên cứu về trượt lở, lũ quét trong thời gian qua. Thế nhưng, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào cảnh báo, hướng dẫn cho người dân phòng chống một cách hiệu quả thì vẫn chưa làm được.
Theo Viện Khí tượng thuỷ văn, từ năm 1953 tới 2005 đã có trên 322 trận lũ quét lớn nhỏ, xảy ra ở hầu hết các tỉnh miền núi VN. Trong 10 năm qua đã có hơn 500 người chết và mất tích. Hàng chục nghìn người khác luôn bị tác động tâm lý xấu do nguy cơ lũ quét, sạt lở đất. Các trận mưa gây lũ quét thường là mưa lớn với tổng lượng mưa lớn hơn 100mm/6giờ và rất khó nắm bắt. Nơi sinh lũ quét thường ở thượng nguồn các sông nhánh, lưu vực nhỏ có độ dốc lớn, địa hình phức tạp và thường là nơi kinh tế-xã hội chậm phát triển, giao thông đi lại khó khăn. |
Cụ thể, các nhà khoa học đã xây dựng xong bản đồ nguy cơ trượt lở, bản đồ nguy cơ lũ quét-lũ bùn đá cho toàn lãnh thổ VN (tỷ lệ 1:3.000.000 và 1:1.000.00), bản đồ riêng cho ba khu vực trọng điểm ở miền núi phía Bắc (tỷ lệ 1:50.000). Nhưng loại bản đồ này chỉ phục vụ cho quy hoạch ở dạng vĩ mô, định hướng chiến lược. Còn để ứng dụng cho vi mô thì cần xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ chi tiết hơn, với tỷ lệ 1:25.000 hoặc 1:10.000.
Không chỉ có vậy, ngay cả khi xây dựng xong các bản đồ phân vùng chi tiết thì những bản đồ đó vẫn chỉ thuần tuý là lý thuyết, không phát huy tác dụng nếu không được phối hợp với các giải pháp khác. Do vậy, để phòng chống lũ quét và trượt lở hiệu quả, cần có các giải pháp đồng bộ, tổng thể, chứ không chỉ nghiên cứu, lập bản đồ.
- Cần các giải pháp đồng bộ
GS Ngô Đình Tuấn (ĐH Thuỷ Lợi) cho rằng để phòng chống hiệu quả, cần kết hợp các bản đồ phân vùng chi tiết với các dự báo khí tượng, thuỷ văn, đặc biệt là lượng mưa, từ đó có cảnh báo cụ thể cho từng địa phương. Điều này có thể thực hiện được nếu các cơ quan hợp tác với nhau. Tuy nhiên, cái khó hiện nay là chưa có trạm thuỷ văn ở hầu hết các vùng xa xôi - nơi lũ quét hay xuất hiện, do vậy thiếu số liệu quan trắc. Ngay cả khi có trạm thì những trạm này cũng không thể truyền tín hiệu trực tiếp, phải thông qua đường bưu điện. Ngoài ra, do thiếu số liệu quan trắc nên không thể chạy các mô hình dự báo.
Để khắc phục tình trạng trạng này, các đại biểu, trong đó có TS Ngô Trọng Thuận (Bộ TN-MT), GS Nguyễn Trọng Hiệu (Viện khí tượng thuỷ văn), kiến nghị phải đầu tư mạnh cho ngành thuỷ văn, tăng cường hệ thống trạm quan trắc thuỷ văn và trạm radar quan trắc.
![]() |
| GS.TS Nguyễn Trọng Yêm, Chủ nhiệm đề tài KC.08.01 thuộc Chương trình Bảo vệ môi trường và Phòng tránh thiên tai, đứng bên cạnh bản đồ nguy cơ trượt lở lãnh thổ VN, tỷ lệ 1:1.000.000 |
Song song với những giải pháp trên, dựa vào bản đồ nguy cơ trượt lở, lũ quét-lũ bùn đá, các địa phương phải triển khai nghiêm túc việc quy hoạch, quản lý sử dụng đất hợp lý (đất rừng, đất nông nghiệp, đất ở, đất xây dựng cơ sở hạ tầng...), kể cả phải điều chỉnh tình trạng hiện nay, chẳng hạn như di dời dân cư.
Bên cạnh đó, cần áp dụng các biện pháp giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân để họ chủ động tham gia tích cực vào công tác phòng chống lũ quét.
Vấn đề cuối cùng mà các đại biểu quan tâm là cần có sự thống nhất về cơ quan chỉ đạo, cơ quan triển khai, tránh chồng chéo trong việc triển khai các giải pháp.
Nếu thực hiện được điều này, VN có thể ứng dụng tối đa các kết quả nghiên cứu đã đạt được vào thực tế cuộc sống, góp phần phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại do trượt lở, lũ quét-lũ bùn đá gây ra.
Nguồn: vnn.vn 25/12/2005









