Cho Hà Nội thêm đẹp
Ba mặt của Hà Nội tiếp giáp sông Hồng và sông Tô Lịch. Vùng đất mạn Nam kinh thành vừa thấp vừa trũng. Có sông tất phải có đê bao bọc để giữ cho nội thành không bị ngập lụt, trong khi các vùng chung quanh bị vỡ đê mùa lũ. Đê thì cao mà đường đi thì thấp, nên chính quyền cho cắt ngang thân đê tạo ra các cửa cho thuận tiện giao thông. Tại những nơi này, người ta làm thành các đầu trụ, lại đặt sẵn những phiến gỗ lim to và dài vừa bằng khẩu độ của cửa. Khi cần sẽ xếp thành hai hàng gỗ chồng lên nhau và đổ đất vào giữa đóng kín cửa lại. Đồng thời xếp các bao đất làm lối lên xuống cho các phương tiện giao thông.
Đê và các cửa ra vào ấy phân định ranh giới giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận, đồng thời cũng là ranh giới giữa lối sống và cách sống của người Hà Nội với dân chúng bên ngoài. Ngựa xe ra khỏi các cửa thì lấm lem bẩn thỉu do đường sá lầy lội, nhất là vào những ngày có mưa. Đa phần dân chúng sống ở vùng ngoài các cửa ấy là nông dân, lớp dân nghèo chuyên làm thuê hoặc hầu hạ trong các nhà quan hay nhà giàu buôn bán trong nội thành. Lớp người lao khổ ấy bị miệt thị và khinh rẻ nên gọi là dân nhà quê hay dân ngoại ô. Rồi các cửa ra vào kia gọi là cửa ô.
Thời xa xưa, có tới trên 10 cửa ra vào cắt ngang thân đê. Nhưng tới trước ngày giải phóng thủ đô còn lại 6 cửa, người ta chỉ quen nói đến 5 cửa mà thôi. Đó là: Cầu Giấy, chợ Dừa, cầu Dền, Đống Mác, Đông Hà (hay còn gọi là Quan Chưởng) và Kim Liên (hay còn gọi là Đồng Lầm). Mỗi cửa mang một nét riêng biệt mà hình thành tên gọi. Người Việt Nam ta hay nói tắt, nên rồi cửa ô biến thành Ô mà ra: Ô Cầu Giấy, Ô Chợ Dừa, Ô Quan Chưởng.
Đáng lưu ý nhất là có hai cửa mang những nét tiêu biểu không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của người Hà Nội:
- Thứ nhất là Cửa Đông Hà mà tên chữ Hán Đông Hà Môn khắc trên tấm biển đá treo cao trong cửa này. Đông Hà Môn có nghĩa là cửa ra sông phía Đông. Nơi đây nay vẫn còn sừng sững lầu cao, cửa cuốn và vọng gác cùng với một đoạn tường thành.
Mọi sự ra vào kinh thành, nhất là với người nước ngoài đều bị kiểm tra rất nghiêm ngặt. Cho ai ra vào thì quan ký tên vào thẻ bài và đóng dấu. Đó là quan Chưởng vệ hay có khi gọi là Chưởng ấn. Quan Chưởng ấn tức là quan giữ ấn, kiểm soát người ra vào như đã nói trên. Nhưng có lẽ tên gọi quan Chưởng vệ là đúng hơn cả. Bởi lẽ vị quan này tước vị chỉ dưới quan Tổng đốc kinh thành, chuyên việc bảo vệ an ninh quốc phòng và an ninh trật tự xã hội công cộng.
(Do hiểu lầm chữ Chưởng là “giữ” với Chưởng là “tay” nên một tác giả có tên gọi là Dương Thanh Hải, trong bài viết đăng báo Tiền phong số 122 ra ngày 10-10-2000 đã giải thích rằng Ô Quan Chưởng là Quan tay đen, có ý gán cho vị quan ấy tham ô, nhũng nhiễu dân lành khi ra vào nơi đây (!).
Trước ngày giải phóng thủ đô, đoạn phố thông từ cửa này ra tới đường Trần Nhật Duật có tên là phố Quan Chưởng. Nhưng rồi không rõ từ lúc nào người ta cho thay tấm biển ấy mà thêm vào chữ ô thành ra phố Ô Quan Chưởng. Rồi lại thêm ra hai tấm biển đá to, khắc ba chữ lớn “Ô Quan Chưởng” để án ngữ lối vào ra nơi đây.
Thời xưa, thông thường mỗi địa danh trên đất nước ta có hai tên là: tên “chữ” và tên gọi nôm. Đông Hà môn là tên chữ và cửa Quan Chưởng là tên gọi bình thường nôm na dân dã. Trong mọi loại giấy tờ bao giờ cũng dùng tên chữ, mà không dùng tên nôm. (Ví như trên giấy tờ thì viết là làng Cổ Nhuế chứ không viết là làng Kẻ Noi).
Cách giải thích sai dẫn đến hiểu sai và viết sai, gây tác hại không nhỏ đối với lịch sử thủ đô chúng ta và những người có công đối với mảnh đất ấy.
- Cửa thứ hai là: Cửa Kim Liên hay còn gọi là cửa Đồng Lầm, nằm trên ngã tư đường Giải Phóng - Đại Cồ Việt và lối vào khu chung cư Kim Liên - Trung Tự.
Kim Liên là vùng đất trũng nhất khu vực này. Nước thải trong thành phố tuôn xuống hai hồ Thiền Quang, đổ ra cửa cống để thoát vào đồng ruộng Kim Liên. Nơi đây quanh năm nước đục ngầu. Người lao động Kim Liên khi giặt áo nâu non vào thứ nước thải ấy, thì màu vải biến thành màu sẫm. Các hãng dệt lợi dụng việc ấy, họ cho nhuộm vải chỉ thành nâu rồi thuê người đem ra giặt ở khu này. Thực chất là đem nhuộm mà không mất thêm tiền mua thuốc. Bãi phơi vải rộng lớn chính là khu chung cư Kim Liên ngày nay. Thứ vải có màu nâu sẫm ấy được các bà, các chị mua về may áo cánh hay áo dài, chính là vải Đồng Lầm và thứ áo kia gọi là áo dài Đồng Lầm đã đi vào lịch sử của đất thủ đô. Do việc gánh gồng mà áo dài Đồng Lầm hay bị rách hai bên vai nên những người thợ may khéo tay đã cắt đi phần trên, chỉ giữ lại hai vạt đằng trước và phần thân áo phía sau, được gọi là áo đổi vai. Rồi lại thêm các biến cải nữa thành ra thứ áo với các màu sắc khác nhau mà ngày nay hay dùng cho các nữ văn công hay tuồng, chèo...
Thời thực dân và phong kiến, người trong nội thành khinh ghét ai thì gọi người ta là dân ngoại ô hay nhà quê (viết liền theo tiếng Pháp là nhaque đọc là “nhắc cờ”). Nhưng cũng sau giải phóng thủ đô, ngôn từ ấy bị xóa bỏ mà chỉ gọi nội thành hay ngoại thành thôi.
Ngày nay cả trong địa giới và ý thức, không mấy người còn phân biệt đâu là nội thành với ngoại thành nữa. Nhưng cách nói sai, viết sai, hầu như vẫn còn thể hiện trên nhiều trang viết hay nói trên truyền hình, với những ngôn từ: ngoại ô, cửa ô. Ngay những nơi gọi là ô ấy như Ô Đống Mác, Ô Cầu Dền, Ô Cầu Giấy thì nay đã thành phường Đống Mác, phường Cầu Dền hay quận Cầu Giấy rồi. Chỉ còn duy nhất một nơi là phường Ô Chợ Dừa ! Với một phố là phố Ô Quan Chưởng.
Nguồn: hanoimoi.com.vn, 26/06/2006








