Chạy theo giống ngoại có thể chúng ta đang lãng phí nguồn gien cây bản địa
Một sự khuyến cáo quá sớm vì mục đích dịch vụ giống. Những phi vụ “tam nhập tái xuất” khi mà một giống cây mới chưa được thử thách đến nơi đến chối đều có thể làm tổn hại cho người nông dân. Một vài vụ quả thu hoạch chưa thể nói lên tính thích ứng của giống khí đưa từ vùng sinh thái này đến vùng sinh thái khác, từ vĩ độ này đến vĩ độ khác. Có thể thấy ở nhiều loại cây trồng trong thực tế sản xuất, chỉ riêng với cây ăn quả thì cũng đã có không ít những dẫn chứng. Một số giống xoài của Trung Quốc được trồng tại Nghệ An, rõ ràng nó có những ưu điểm, đặc biệt là chín lệch vụ với xoài ta, muộn hơn và quả to hơn xoài cát nhưng ngoài năng suất không ổn định, có người còn phân vân về chất lượng quả. Nó lại bị bệnh thán thư và ruồi vàng hại quả khá nặng, tỷ lệ rụng quả cao.
Cây dứa Cayen được du nhập vào vùng Phủ Quỳ từ xa xưa. Với thời gian tồn tại ở đây đã có thể coi là một cây bản địa. Trong khoảng những năm từ 1960-1980 nhiều chuyên gia trong nước và cả nước ngoài đã đến tìm hiểu, thu thập giống. Những kết quả nghiên cứu trong một thời gian dài đã cho thấy dứa Cayen Phủ Quỳ về sinh trưởng, trọng lượng và phẩm chất quả không thua kém các giống Cayen khác của cả trong nước và nhập ngoại, thậm chí có một số chỉ tiêu còn đạt cao hơn như tỷ lệ phần ăn được của quả, hàm lượng đường tổng số, vitamin C… Tại trạm cây đặc sản Quỳnh Châu, Nghệ An, giáo sư Ngô Văn Hoàng đã thành công trong việc nhân giống dứa Cayen Phủ Quỳ bằng phương pháp cắt khoanh, chẻ miếng xử lý chất kích thích ra rễ, cùng với các thí nghiệm về phân bón, thâm canh trên một loại đất đồi sa thạch, nghèo, có thành phần cơ giới nhẹ, có độ dốc từ 10-15° đã chứng tỏ cây dứa Cayen Phủ Quỳ có thể phát triển tốt và cho năng suất cao trên các loại đất không phải bazan. Rất tiếc là các công trình không được tiếp nối để nhân rộng, có nguyên nhân do việc giải thể trạm. Cây dứa Cayen Phủ Quỳ được coi như một nguồn gien quý, một giống cây tốt lại phải chịu số phận bờ bụi trong một số làng bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Nghĩa Xuân và Giai Xuân của hai huyện Quỳ Hợp, Tân Kỳ. Lẽ ra nó đã xứng đáng chiếm một diện tích rộng lớn không ở đâu xa mà phát triển vùng dứa nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như bây giờ.
Rất may mắn, cho dù là hơn 20 năm sau, cây dứa Phủ Quỳ lại được tái hiện trong các nghiên cứu so sánh giống và được biết rằng nhận xét rút ra là Cayen Phủ Quỳ vẫn không chịu thua kém các giống của Trung Quốc, Thái Lan - những giống mà trong mấy năm qua ngành sản xuất dứa đã nhập vào một lượng lớn giống và đã được nhân để cung cấp sản xuất tại nhiều vùng.
Dứa là cây của vùng cận nhiệt đới. Nó đã được phát triển ở các nước như Nam Phi, Australia, Malaysia, Hawaii… cùng với nhiều công trình nghiên cứu về giống và kỹ thuật trồng trọt từ rất sớm trong cuốn Tree and field crops of the wetter regions of the Troppiescủa C.N. Williams, W.Y. Chew và J.A.Raijaratnam. Cho nên chưa hẳn những giống đã được nhập là tốt nhất và chuyện “thầy bói sờ voi” cũng dễ xảy ra lắm, không chỉ với cây dứa mà cả những cây trồng khác. Trở lại giống quýt Đại Hồng của Trung Quốc vào Phủ Quỳ theo con đường “tiểu ngạch”, nhiều người vội nhân ra trồng đã phải chịu thất bại rồi nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Không chỉ với giống ngoại mà ngay cả những giống cây trồng ở các vùng trong nước, không phải trồng nơi nào cũng đều đạt hiệu quả như nơi nguyên sản. Giống quýt Bắc Quang của Hà Giang một thời ồ ạt đổ vào Phủ Quỳ rồi cũng chỉ tồn tại có 5 năm. Gần đây, một giống vải địa phương của vùng Phú Thọ rất sai quả, chín sớm, 5 năm với những cây ghép quả mùa đầu rất hấp dẫn. Nhiều người nông dân xem ti vi đã mừng sẽ có một cơ cấu rải vụ cho cây vải. Có ngờ đâu vụ quả năm sau hoa vẫn ra nhiều nhưng không có quả. Có người hài hước bảo rằng nó đã bị “đặt vòng” rồi! Đã từ lâu, người làm vườn đã quen nghe nói về các giống cây đặc sản của xứ người mà quên đi những giá trị đích thực vốn có của Nghệ An. Giống nhãn lồng của vùng ven sông Lam ở Đô Lương (Lưu Sơn, Nam Bắc Đặng…) từng nổi tiếng là một ví dụ. Về độ dày cùi, độ ngọt, độ mỏng của vỏ thì có thể còn hơn cả một số giống nhãn Hưng Yên như Hương chi. Được biết cho đến tận bây giờ, tại đây, trong một số vườn cũ vẫn còn lưu giữ giống nhãn này… Và cũng không biết từ bao giờ cây hồng Nam Anh của Nam Đàn đã được người tiêu dùng ưa chuộng do cả năng suất và chất lượng quả. Ở ngay trên vùng đất phiến thạch kém màu mỡ của Nam Đàn, nhiều gia đình trồng hồng đã cho thu nhập trên 1 triệu đồng/cây/năm dễ dàng, trong khi rất nhiều người lại chú trọng phát triển giống hồng khác. Một sự vòng vo chuyển đổi rồi mới nhận ra là thua Nam Anh tất, kể cả Nhân Hậu, Lục Yên… Và cũng vì thế, có người khuyên trở về “trâu ta ăn cỏ đồng ta”.
Không phải là tất cả nhưng hầu hết các giống cây được coi là đặc sản của từng vùng miền đều phải chịu sự kiểm soát khắt khe của điều kiện môi trường. Biết thế nhưng như một nghịch lý về giống ngoại giống nội vẫn tồn tại, trong khi những nhà khoa học nước ngoài đi đến những vùng sâu, vùng xa để nghiên cứu, thu thập những nguồn gien cây trồng bản địa của ta. Các chuyên gia Nhật rất chú ý đến những cây bưởi dại, bưởi đắng. Các nhà nghiên cứu của Viện Tài nguyên sinh vật quốc tế (IPGRI) lại rất quan tâm tìm hiểu những giống cây lương thực, thực phẩm địa phương. Họ say sưa với giống nếp chạo thơm, chạo đen dùng để nấu ra một loại rượu có chất lượng cao, những giống lưu truyền trong đồng bào các dân tộc từ thời chọc lỗ bỏ hạt cũng như các giống kê ta, giống khoai sọ rừng…
Bài học buồn về lúa lai Trung Quốc vừa qua cũng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho việc làm giống chỉ bằng con đường nhập ngoại. Cái được của hệ thống phân phối, dịch vụ không biết chừng nào nhưng cái mất mà người nông dân phải gánh chịu quả là rất lớn. Và nếu cứ làm theo phương cách đó thì khó có thể mà phát triển. Nếu không quan tâm đến việc khai thác, chọn tuyển ngay trong những tập đoàn giống cây trồng của ta mà chỉ theo con đường du nhập giống, có thể dễ làm nhanh ăn nhưng cũng rất có thể cả đời chỉ chuyên làm các cuộc thử nghiệm mà biết đâu trong đó lại có cả những dòng, những giống vốn đi ra từ nguồn gien cây bản địa của ta.
Thiết nghĩ, việc thu thập giống chỉ là việc của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu cơ bản, tuy nhiên cần phải có đủ môt bộ gồm nhiều giống để trồng đồng thời cùng so sánh. Người sản xuất không nên vội vàng phát triển những giống cây trồng mà mới chỉ thông qua một chuyến tham quan, học tập, không thể đi tắt chạy trước khi mà sự thành công, thất bại hãy còn là chuyện may rủi. Thực tế cũng cho thấy để trở thành một tiến bộ kỹ thuật về giống, nhất là giống cây ăn quả lâu năm, thời gian khảo nghiệm cho một giống mới phải mất 5-7 năm ra hoa, kết quả liên tiếp, không kể thời gian theo dõi, quan sát trong vườn tập đoàn.
Nguồn: Thông tin KH-CN Nghệ An, số 5/2005.







