Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 08/06/2012 19:04 (GMT+7)

Cần đẩy mạnh “học thuật hoá” vấn đề Biển Đông

Khoa học là một công cụ để nhận thức thế giới. Dựa trên thông tin, bằng chứng chuẩn xác sẽ dẫn đến một nhận định khách quan, đúng đắn. Ngược lại, lồng vào khoa học những mục đích chính trị tuyên truyền sẽ đưa đến những lệch lạc về góc nhìn. Trong bài toán tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông hiện nay, khoa học và các nhà khoa học dường như đang đứng trước một sứ mạng nặng nề. Trong khi vừa phải “đi tìm chân lý” thông qua các khảo sát về lịch sử, địa lý, quan hệ quốc tế… một cách nghiêm túc, họ cũng chịu sức ép để chọn lọc ra những điều không ảnh hưởng đến lợi ích lãnh thổ quốc gia. Sứ mạng này không là mặc định, và cũng đi ngược lại phần nào nguyên tắc “tôn trọng và chỉ đi tìm sự thật” của công việc nghiên cứu, nhưng là “nguyên tắc ngầm” tự hiểu, nhất là đối với những phe tranh chấp với bằng chứng và lập luận còn kém thuyết phục hơn.

Tranh luận về Biển Đông, không thể “ăn thua” về lượng xuất bản phẩm hay sự hiện diện đông đảo tại các diễn đàn, hội nghị quốc tế. Chìa khoá vàng mà giới khoa học Việt Nam đang sở hữu là tính “hợp lý hơn” của lý lẽ. Một lập luận có tính hợp lý hơn không những tạo sự chính đáng cho các quan điểm, mà còn là một tiền đề quan trọng góp phần xây dựng kiến thức chung về vấn đề tranh cãi (common knowledge). Mặt khác, vấn đề tranh chấp hiện nay đang đi vào một khúc quanh pháp lý rất quan trọng, mà điểm đầu tiên của mọi câu chuyện là phải làm sao định nghĩa lại những khái niệm cần giải quyết, từ định nghĩa cách hiểu đảo – đá trong Luật biển 1982, đến cách phân định quyền và nghĩa vụ các nước liên quan trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Thắng lợi gần đây của Việt Nam trong việc truy lùng và “lật tẩy” cho thế giới thấy về sự xuất hiện phi lý của “đường lưỡi bò” qua các bài viết khoa học của tác giả Trung Quốc, có công đầu thuộc về giới học giả, trí thức. Hai tạp chí danh tiếng Nature và Science đã cùng đưa ra quan điểm phản đối hành động phản khoa học từ phía Trung Quốc. Hay như kiến nghị thay đổi từ “Biển Nam Trung Hoa” thành “Biển Đông Nam Á” của nhiều học giả Việt Nam. Rõ ràng, đây không phải chỉ là vấn đề cái tên, mà là một khẳng định về danh từ chung đang và sẽ được dùng trong việc xác định một khu vực đang tranh chấp. Xuất phát từ sự khác biệt về quan niệm, có thể dẫn đến sự chấp nhận cùng một lúc nhiều mô thức khác nhau về cảm nhận, cách diễn dịch, thậm chí hành vi ứng xử của các nước tham gia và những nước quan sát bên ngoài.

Nếu các học giả Trung Quốc thông qua nhiều kênh cố gắng lồng “đường lưỡi bò” hay tên gọi “Nam Trung Hoa” vào các sản phẩm khoa học để “chính đáng hoá” những yêu sách lãnh thổ – lãnh hải, thì nhiệm vụ từ phía Việt Nam là bằng bài viết, bằng lập luận, bằng những thông số phải “phi chính đáng hóa” lại những thông tin sai lệch này. Hiện diện của sức mạnh trong văn cảnh này là góp phần xây dựng lại kiến thức chung về vấn đề tranh cãi hay phủ định lại những áp đặt đi ngược lại các chuẩn mực khoa học

Đẩy mạnh quá trình “học thuật hoá” vấn đề tranh chấp tại biển Đông để tận dụng sức mạnh từ lý lẽ chính là phương thức hữu hiệu nhất bù lại với khiếm khuyết mỏng về lực lượng, và còn yếu (hay vẫn nghiệp dư) về khả năng nghiên cứu của ta. Và quan trọng hơn, khoa học mang tính lan toả. Lý lẽ không lòng vòng nội trong những chiếc tháp ngà uy nghi của các viện, trường, phân khoa đại học uy nghi, mà còn đến mỗi nhà mỗi người: từ gia đình chài lưới ở Lý Sơn với công hàm còn lưu của chúa Nguyễn, đội dân binh xóm chài tự nguyện, đến anh chiến sĩ đang đứng gác ở vọng đảo Trường Sa; từ những nhà nghiên cứu điền thổ khắp nẻo đường cát trắng, em học sinh thắp đèn cặm cụi “Thư cho hải đảo”, đến bà mẹ ầu ơ con bằng ca dao lịch sử nước nhà.

Đó chính là đích ngắm cuối cùng hướng đến sự hậu thuẫn từ toàn dân mà khoa học có thể góp phần làm cầu nối.

Chính sách tuyên truyền của Trung Quốc
Trong vấn đề biển Đông hiện nay, rõ ràng Trung Quốc là quốc gia lớn và mạnh nhất, tuy nhiên họ lại là nước có lý lẽ kém thuyết phục nhất trong số các quốc gia có dính líu đến tranh chấp. Thế nhưng trên thực tế, Trung Quốc lại có một chính sách thực hiện tuyên truyền về chủ quyền trên Biển Đông theo kiểu của họ khá mạnh, đem lại cho Bắc Kinh những lợi thế tương đối lớn.
Ở cấp trung ương, Bắc Kinh có một viện nghiên cứu rất lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông được gọi là “Viện nghiên cứu Nam Hải Trung Quốc”. Ngoài ra, họ còn có các cơ sở nghiên cứu thuộc trung ương khác như “Sở nghiên cứu Nam Hải” thuộc viện Khoa học xã hội Trung Quốc, bộ Tư lệnh Hải quân hay Sở nghiên cứu tình báo khoa học kỹ thuật hải dương…Hoạt động chính của các cơ sở nghiên cứu này là thu thập và biên soạn tài liệu, tiến hành nghiên cứu, tổ chức hội thảo… về chủ quyền biển đảo.
Ở cấp địa phương, các tỉnh ven biển Trung Quốc, mà nổi bật là Quảng Đông hay Phúc Kiến, đều có khá nhiều cơ quan nghiên cứu về biển đảo. Tháng 9.1974, bảo tàng Lịch sử Quảng Đông đã in “Hiện vật khảo cổ Tây Sa”. Năm 1976, sở Ngoại vụ Quảng Đông tung ra một loạt tài liệu: “Địa lý các đảo Nam Hải”, “Vấn đề đối ngoại của nước ta về các đảo Nam Hải”, “Khái luận về chủ quyền của nước ta đối với các đảo Nam Hải”… Ở các trường đại học, chẳng hạn đại học Hạ Môn trong hai năm 1975 – 1976 đã xuất bản trọn bộ sáu cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta”. Khoa địa lý, đại học Sư phạm Hoa Nam xuất bản cuốn “Nghiên cứu địa danh các đảo Nam Hải” (1983). Đại học Trung Sơn xuất bản nghiên cứu chuyên đề “Lịch sử địa lý quần đảo Nam Sa” (1991). Các tác phẩm đều được dịch sang tiếng Anh để đưa ra thế giới.
Các tác phẩm nghiên cứu sau đó được truyền bá đi khắp mọi nơi, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Các sinh viên hay nghiên cứu sinh người Trung Quốc sau đó sử dụng các tài liệu này cho các báo cáo khoa học hay luận văn của mình tại chính các đại học ở nước ngoài, qua đó vô tình đã biến các tài li ệu đó trở thành tài liệu chính thống được công nhận. Các giáo sư hay học giả phương Tây, vốn dĩ không tiếp cận được nhiều các tài liệu về biển Đông, nghiễm nhiên coi đó là “chuẩn”. Một nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng, có lẽ trong vòng 20 năm nữa, sinh viên hay khoa học gia nước ngoài muốn tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với Hoàng Sa – Trường Sa thì chỉ thấy các bài của học giả Trung Quốc đầy rẫy trên báo chí khoa học và các thư viện với lập luận thiên về phía họ.
Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.