Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 31/12/2005 15:36 (GMT+7)

Cách giải quyết vấn đề nước uống của người Việt cổ

Ở thời mới khai phá đồng bằng, chưa đắp được đê, vào mùa lũ nước từ thượng nguồn tràn về mênh mông, kéo theo các vật trôi nổi và phù sa đục ngầu kéo dài hàng mấy tháng liền, vì thế, ao giếng ở thời kỳ này phải được đắp bờ thật cao. Vì thế mà về sau, ao giếng ấy được gọi là ao vượt, giếng vượt,tức là “vượt lên trên nước lũ”.

Để có thể từ bờ xuống lấy nước một cách an toàn và cũng là để giữ nước sạch sẽ, ở bờ ao bờ giếng người ta phải làm cầu.Cầulúc đầu làm bằng tre hay gỗ, về sau, đến thời biết sử dụng vôi vữa và nung được gạch, thì cầu cũng được xây cất cho chắc chắn hơn.

Giếng cổ của người Việt phân biệt với ao là ở hình dáng: giếng hình tròn, còn ao thì hình vuông hoặc hình chữ nhật (khác với giếng cổ của người Chăm thường có hình vuông). Giếng lấy nước ăn, còn ao để tắm rửa, giặt giũ. Giếng có hai loại là giếng đất và giếng thơi. Giếng đất to và cạn hơn, còn giếng thơi thì nhỏ và sâu hơn. Giếng đất có cầu thang lên xuống như ao để xuống gánh nước, còn giếng thơi xây bó bờ thật cao, để tránh cho người và vật khỏi bị rơi xuống.

Để lấy được nước từ giếng thơi lên, thời gian đầu người ta phải dùng một dụng cụ là chiếc bồ đài,nối với một sợi dây ở miệng để dòng xuống. Bồ đài lúc đầu được làm bằng mo cây cau hay mo cây búng báng gấp khum khum vào, ở hai đầu dùng dây cố định lại cho chắc. Đó là vật dễ kiếm, dễ làm, dùng cũng khá bền lại thuận tiện nữa. Bồ đàiđối với người Việt cổ khi mới khai phá đồng bằng, chẳng những được dùng để múc nước tát nước mà còn dùng làm mũ đội trên đầu, để che nắng che mưa cũng rất tiện lợi. Sau thời gian làm bồ đàibằng mo cây cau, mo cây búng báng; mới đến thời làm bồ đàibằng khau, đan từ nan tre chẻ mỏng. Đến bây giờ, bồ đàilà những chiếc thùng nhỏ, làm bằng cao su hoặc nhôm, sắt tây, như mọi người đều thấy.

Dụng cụ để xách nước, gánh nước từ giếng về nhà, thời gian đầu là các ống tre, ống bương rồi đến các loại vò bằng đất nung, vừa nặng vừa dễ vỡ. Vì thế sau đó, các loại thùng gỗ ra đời, để thay thế dần. Thùng gỗ là những thanh gỗ mỏng được ghép lại với nhau theo hình tròn, phía bên ngoài có đai bằng tre hoặc mây, để giữ lại. Đáy thùng cũng là miếng gỗ tròn, ghép chặt vào phía trong thùng, còn ở đầu thùng có thanh gỗ ngang để xách hoặc luồn dây vào gánh. Để cho nước khỏi rỉ qua các khe hở, người ta dùng vỏ cây sắn ăn quả giã nhỏ rồi chà xát vào, khi khô, nhựa và bã vỏ sắn sẽ bám chặt vào những khe hở, giữ cho nước không rỉ ra. Đấy cũng là cách để trám thuyền nan, thuyền gỗ đi lại trên sông, cho nước khỏi rỉ vào. (Bây giờ người ta dùng nhựa đường để thay thế). Sau thời gian làm thùng bằng gỗ, mới đến thời làm thùng bằng sắt, bằng nhôm. . .

Ở giai đoạn mới xuống đồng bằng, dụng cụ chứa nước ăn trong nhà, là các loại chum, vại được nặn từ đất luyện rồi cho vào lò nung. Sau thời dùng chum vại, mới đến thời dùng gạch và vôi vữa có hoà mật mía (ở thời chưa có xi măng) để xây bể.

Để lấy được nước mưa tự nhiên, đỡ phải đi gánh xa, người ta dùng một đoạn máng nhỏ, nối từ thân cây (mít, dừa, cau. . .) trồng ở gần đấy vào miệng chum vại, bể. Nước từ các cành lá theo dòng chảy xuống thân cây, bị một mối buộc giữ lại, chảy vào máng, rồi từ máng chảy vào bể. Không thấy nhà ai lấy nước mưa từ các mái tranh, mái cọ xuống, vì nước ấy có màu nâu (là màu của rơm rạ, tranh, cọ mục) và lẫn rất nhiều bụi bẩn. Chỉ đến khi mái tranh, mái cọ được thay bằng mái ngói sau này, thì người ta mới dùng máng hứng lấy nước, rồi từ máng hứng cho nước chảy qua máng truyền mà vào bể. Máng nước lúc đầu được làm bằng nửa thân cây cau hoặc cây tre thẳng, ở trong nạo ruột và các mấu gióng đi. Đến bây giờ thì máng nước được cải tiến bằng việc dùng các vật liệu như nhôm, sắt tây, vừa bền vừa nhẹ hơn, để thay thế.

Khi con người mới xuống đồng bằng thì nơi ở chỉ lèo tèo có vài nhà. Theo thời gian, dân số dần dần phát triển lên, cũng từ đấy, xóm, làng ra đời, ngày càng trù mật. “Cây đa - giếng nước” lúc đầu, vì thế đã trở thành trung tâm của các xóm, làng một cách thật tự nhiên. Đó là do nhu cầu sử dụng nước ở giếng chung, mà mọi người thường xuyên phải lui tới, từ đấy gặp gỡ, trao đổi, chuyện trò. Đấy cũng còn là nơi có cây đa mà theo thời gian đã trở thành cổ thụ, vào mùa hè nóng bức, mọi người thường đến hóng mát, còn trẻ em thì nhảy nhót, nô đùa.

Ở mỗi làng xóm Việt Nam, bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu thế hệ như thế đã qua đi. Vì thế “cây đa - giếng nước” đã đi vào tâm thức của mọi người, trở thành biểu tượng thiêng liêng vững bền về quê hương đất nước.

----
(*) “ Bách Việt tộc phả cổ lục” là bộ sách của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở Đại Lôi, nay là hai xã Phú Lâm - Phú Lương đầu huyện Thanh Oai, Hà Tây, ghi về thế thứ, sự tích, ngày sinh, ngày hoá, nơi an táng của các vị vua và các bà vợ ở thời dựng nước khi mới bước xuống khai phá đồng bằng. Sách đã được in lược dịch vào phần Phụ lục cuốn Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam của Hà Hùng Tiến, NXB Văn hoá - Thông tin ấn hành, năm 1997.

Nguồn: Khoa học phổ thông số 29 (767)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.