Cách giải quyết vấn đề nước uống của người Việt cổ
Ở thời mới khai phá đồng bằng, chưa đắp được đê, vào mùa lũ nước từ thượng nguồn tràn về mênh mông, kéo theo các vật trôi nổi và phù sa đục ngầu kéo dài hàng mấy tháng liền, vì thế, ao giếng ở thời kỳ này phải được đắp bờ thật cao. Vì thế mà về sau, ao giếng ấy được gọi là ao vượt, giếng vượt,tức là “vượt lên trên nước lũ”.
Để có thể từ bờ xuống lấy nước một cách an toàn và cũng là để giữ nước sạch sẽ, ở bờ ao bờ giếng người ta phải làm cầu.Cầulúc đầu làm bằng tre hay gỗ, về sau, đến thời biết sử dụng vôi vữa và nung được gạch, thì cầu cũng được xây cất cho chắc chắn hơn.
Giếng cổ của người Việt phân biệt với ao là ở hình dáng: giếng hình tròn, còn ao thì hình vuông hoặc hình chữ nhật (khác với giếng cổ của người Chăm thường có hình vuông). Giếng lấy nước ăn, còn ao để tắm rửa, giặt giũ. Giếng có hai loại là giếng đất và giếng thơi. Giếng đất to và cạn hơn, còn giếng thơi thì nhỏ và sâu hơn. Giếng đất có cầu thang lên xuống như ao để xuống gánh nước, còn giếng thơi xây bó bờ thật cao, để tránh cho người và vật khỏi bị rơi xuống.
Để lấy được nước từ giếng thơi lên, thời gian đầu người ta phải dùng một dụng cụ là chiếc bồ đài,nối với một sợi dây ở miệng để dòng xuống. Bồ đài lúc đầu được làm bằng mo cây cau hay mo cây búng báng gấp khum khum vào, ở hai đầu dùng dây cố định lại cho chắc. Đó là vật dễ kiếm, dễ làm, dùng cũng khá bền lại thuận tiện nữa. Bồ đàiđối với người Việt cổ khi mới khai phá đồng bằng, chẳng những được dùng để múc nước tát nước mà còn dùng làm mũ đội trên đầu, để che nắng che mưa cũng rất tiện lợi. Sau thời gian làm bồ đàibằng mo cây cau, mo cây búng báng; mới đến thời làm bồ đàibằng khau, đan từ nan tre chẻ mỏng. Đến bây giờ, bồ đàilà những chiếc thùng nhỏ, làm bằng cao su hoặc nhôm, sắt tây, như mọi người đều thấy.
Dụng cụ để xách nước, gánh nước từ giếng về nhà, thời gian đầu là các ống tre, ống bương rồi đến các loại vò bằng đất nung, vừa nặng vừa dễ vỡ. Vì thế sau đó, các loại thùng gỗ ra đời, để thay thế dần. Thùng gỗ là những thanh gỗ mỏng được ghép lại với nhau theo hình tròn, phía bên ngoài có đai bằng tre hoặc mây, để giữ lại. Đáy thùng cũng là miếng gỗ tròn, ghép chặt vào phía trong thùng, còn ở đầu thùng có thanh gỗ ngang để xách hoặc luồn dây vào gánh. Để cho nước khỏi rỉ qua các khe hở, người ta dùng vỏ cây sắn ăn quả giã nhỏ rồi chà xát vào, khi khô, nhựa và bã vỏ sắn sẽ bám chặt vào những khe hở, giữ cho nước không rỉ ra. Đấy cũng là cách để trám thuyền nan, thuyền gỗ đi lại trên sông, cho nước khỏi rỉ vào. (Bây giờ người ta dùng nhựa đường để thay thế). Sau thời gian làm thùng bằng gỗ, mới đến thời làm thùng bằng sắt, bằng nhôm. . .
Ở giai đoạn mới xuống đồng bằng, dụng cụ chứa nước ăn trong nhà, là các loại chum, vại được nặn từ đất luyện rồi cho vào lò nung. Sau thời dùng chum vại, mới đến thời dùng gạch và vôi vữa có hoà mật mía (ở thời chưa có xi măng) để xây bể.
Để lấy được nước mưa tự nhiên, đỡ phải đi gánh xa, người ta dùng một đoạn máng nhỏ, nối từ thân cây (mít, dừa, cau. . .) trồng ở gần đấy vào miệng chum vại, bể. Nước từ các cành lá theo dòng chảy xuống thân cây, bị một mối buộc giữ lại, chảy vào máng, rồi từ máng chảy vào bể. Không thấy nhà ai lấy nước mưa từ các mái tranh, mái cọ xuống, vì nước ấy có màu nâu (là màu của rơm rạ, tranh, cọ mục) và lẫn rất nhiều bụi bẩn. Chỉ đến khi mái tranh, mái cọ được thay bằng mái ngói sau này, thì người ta mới dùng máng hứng lấy nước, rồi từ máng hứng cho nước chảy qua máng truyền mà vào bể. Máng nước lúc đầu được làm bằng nửa thân cây cau hoặc cây tre thẳng, ở trong nạo ruột và các mấu gióng đi. Đến bây giờ thì máng nước được cải tiến bằng việc dùng các vật liệu như nhôm, sắt tây, vừa bền vừa nhẹ hơn, để thay thế.
Khi con người mới xuống đồng bằng thì nơi ở chỉ lèo tèo có vài nhà. Theo thời gian, dân số dần dần phát triển lên, cũng từ đấy, xóm, làng ra đời, ngày càng trù mật. “Cây đa - giếng nước” lúc đầu, vì thế đã trở thành trung tâm của các xóm, làng một cách thật tự nhiên. Đó là do nhu cầu sử dụng nước ở giếng chung, mà mọi người thường xuyên phải lui tới, từ đấy gặp gỡ, trao đổi, chuyện trò. Đấy cũng còn là nơi có cây đa mà theo thời gian đã trở thành cổ thụ, vào mùa hè nóng bức, mọi người thường đến hóng mát, còn trẻ em thì nhảy nhót, nô đùa.
Ở mỗi làng xóm Việt Nam, bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu thế hệ như thế đã qua đi. Vì thế “cây đa - giếng nước” đã đi vào tâm thức của mọi người, trở thành biểu tượng thiêng liêng vững bền về quê hương đất nước.
----
(*) “ Bách Việt tộc phả cổ lục” là bộ sách của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở Đại Lôi, nay là hai xã Phú Lâm - Phú Lương đầu huyện Thanh Oai, Hà Tây, ghi về thế thứ, sự tích, ngày sinh, ngày hoá, nơi an táng của các vị vua và các bà vợ ở thời dựng nước khi mới bước xuống khai phá đồng bằng. Sách đã được in lược dịch vào phần Phụ lục cuốn Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam của Hà Hùng Tiến, NXB Văn hoá - Thông tin ấn hành, năm 1997.
Nguồn: Khoa học phổ thông số 29 (767)








