Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 27/12/2006 00:41 (GMT+7)

Các phương pháp nghiên cứu của văn hóa học

Do văn hóa học là một lĩnh vực kiến thức tích hợp, thu thập kết quả nghiên cứu của một loạt khoa học chuyên ngành (nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, sử học…), cho nên thao tác phân tích được thực hiện thông qua sự tổng hợp các phương pháp và mục đích nhận thức, tập hợp xung quanh một trung tâm: văn hóa và các bình diện của nó. Điều này cho phép tư duy lại nhiều quan niệm và khái niệm đang tồn tại trong khuôn khổ mỗi chuyên ngành hợp thành văn hóa học. Trong quá trình phân tích văn hóa học, các phương pháp cụ thể của từng chuyên ngành khác nhau được sử dụng một cách có chọn lọc, tính đến khả năng giải quyết các vấn đề, phân tích chúng trên phương diện văn hóa học. Không hiếm khi chúng được sử dụng không phải với tư cách các thao tác hình thức, mà giống như các cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội hoặc nghiên cứu nhân văn. Tất cả những điều này tạo nên cơ sở để biểu hiện về sự biến thái nhất định các phương pháp chuyên ngành, về sự tích hợp chúng trong khuôn khổ các nghiên cứu văn hóa, và cuối cùng, đó chính là tác nhân kích thích sự phát triển nhận thức văn hóa học nói chung.

Sự nhận biết như vậy không có nghĩa là dẫn đến loại bỏ sự cần thiết phân thành những nhóm đặc biệt và nghiên cứu chuyên sâu các phương pháp phân tích của văn hóa học. Trong hệ phương pháp của văn hóa học cũng áp dụng sự chia tách, phổ biến đối với các khoa học xã hội và nhân văn khác, là chia thành các phương pháp phục vụ cho việc nghiên cứu tri thức cơ bản và các phương pháp gắn với việc thu nhận tri thức kinh nghiệm. Cũng có thể tách thêm một nhóm đặc biệt các phương pháp nghiên cứu lĩnh vực tri thức văn hóa học ứng dụng. Trong những thập niên gần đây trong khuôn khổ tri thức ứng dụng đã xuất hiện các phương pháp và kỹ thuật của các chuyên ngành văn hóa học mới nhất như nhân học sinh thái, nhân học đô thị, dự án văn hóa-xã hội, tổ chức các liên kết và quan hệ liên thiết chế (trong đó có tư vấn thích ứng, giao tiếp cộng đồng…)

Một cách phân nhóm các phương pháp nghiên cứu văn hóa học khác bắt nguồn từ cách phân chia truyền thống trong lịch sử, chia các khoa học thành khoa học về tự nhiên và khoa học về tinh thần. Đến thế kỷ XX các nhà nghiên cứu bắt đầu nói đến việc sử dụng trong phân tích xã hội và phân tích văn hóa các phương pháp của nghiên cứu văn hóa nhân văn và nghiên cứu văn hóa xã hội theo hệ thuật ngữ của tư duy khoa học Nga. Khi nói về các ngành khoa học nhân văn, người ta muốn nói đến tổ hợp các phương pháp của nghiên cứu ngữ văn, nghiên cứu văn học, sử học, lý luận văn hóa, nghiên cứu tôn giáo, nghệ thuật học, dân tộc chí, nhân học văn hóa, triết học, đạo đức học,… Còn khi nói đến các khoa học xã hội, người ta đưa vào nhóm này các phương pháp của kinh tế học, chính trị học, dân tộc học, xã hội học,… Trong nhóm thứ nhất, nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu tính chất cá thể của văn hóa, so sánh chúng, mô tả các tư liệu xuất phát điểm của văn hóa. Còn thao tác tổng quát trong trường hợp này chỉ là nhiệm vụ thứ yếu. Đồng thời người ta cũng sử dụng các phương pháp gắn liền với việc đi sâu thấu hiểu văn hóa, thâm nhập vào ý nghĩa bên trong của các hiện tượng và giá trị của nó, bằng cách này hay cách khác, gắn với quan điểm giá trị của khuynh hướng thực chứng. Trong số chúng, có tầm quan trọng đặc biệt là các phương pháp dân tộc học thực địa (mô tả, phân loại, phương pháp tàn dư,…), phương pháp quan sát, phỏng vấn mở của tâm lý học và xã hội học, các phương pháp của sử học (trong đó có phương pháp lịch sử - so sánh), phân tích văn bản trong khuôn khổ hệ hình của giải minh học,… Trong nhóm thứ hai, ngược lại, nhiệm vụ chủ yếu là tìm ra các qui luật và nguyên tắc, cho phép đi từ những qui luật chung đến thấu hiểu các hiện tượng riêng. Trong nhóm này, các thực tế riêng lẻ ít có giá trị hơn các tổng kết mang tính hệ quan niệm, phân tích tính chất chung của các hiện tượng và liên kết chúng với rất nhiều hiện tượng khác. Trong trường hợp này, việc sử dụng các phương pháp này hay khác chủ yếu là hướng tới việc làm rõ về mặt nhận thức các chức năng của văn hóa, nêu bật những mối liên hệ nhân - quả, khách quan, bên trong của nó, thấu hiểu một cách có phê phán các hiện tượng tinh thần của đời sống văn hóa. Bên cạnh đó, các phương pháp, nguyên tắc và phạm trù nhận thức bị cuốn hút về mô hình lý tưởng phân tích hệ hình của khoa học tự nhiên và phương thức xây dựng đề án-công cụ để vận dụng chúng. Theo khuynh hướng này được sử dụng rộng rãi là các phương pháp và thủ pháp cụ thể của phép phân tích trong các nghiên cứu kinh tế học, chính trị học, xã hội học - đó là cách tiếp cận cấu trúc - chức năng, phương pháp phân loại, phân tích sự kiện và các hợp phần, mô hình hóa đi đôi với áp dụng phân tích toán học, trưng cầu dư luận xã hội, nghiên cứu văn bản bằng phương pháp phân tích nội dung,…

Như vậy, nhóm các phương pháp thứ nhất ở mức độ cao hơn, có khả năng phản ánh thế giới không gian vật thể và sự kiện cụ thể của văn hóa, phản ánh dòng chảy kinh nghiệm văn hóa còn phân lập yếu của con người, cũng như các đặc tính của hiện tượng văn hóa như những sự khác nhau, giống nhau, rất khó biểu đạt, những gì độc nhất vô nhị. Các phương pháp này có thể phản ánh những hiện tượng dễ thay đổi hoặc toàn vẹn của văn hóa, nhưng thật khó xác định hình thức của bản thân tính hay thay đổi và tính toàn vẹn đó.

Nhóm các phương pháp thứ hai, ngược lại, dựa vào thế mạnh của trừu tượng hóa khách quan, giải quyết tốt hơn loại nhiệm vụ biểu lộ rõ cái chung nhất, cái toàn thể gắn với nhau về mặt chức năng bằng cách phân tích các cấu trúc điều chỉnh phân tầng. Các phương pháp đó có hiệu quả tốt nhất với các đơn vị văn hóa trung mô và cho phép nghiên cứu những gì đã được phân hóa, chia tách, đã có hình thức biểu hiện rõ ràng, nhưng rất khó cấp cho hình thức đó một nội dung nhân văn mang tính cá nhân, độc đáo, vốn hết sức quan trọng trong văn hóa.

Bên cạnh đó, khi sử dụng các phương pháp này hay phương pháp khác cũng không thể đưa ra một ranh giới rõ rệt giữa chủ thể của phép phân tích với khách thể được nghiên cứu. Đặc tính đó liên kết tất cả các phương pháp phân tích xã hội và phân tích nhân văn lại, phân biệt chúng với các phương pháp của khoa học tự nhiên, của toán học, kỹ thuật ứng dụng, mà việc sử dụng chúng có nền tảng vững chắc dựa trên thể thức giải thích và hầu như không quan tâm lắm đến thể thức thấu hiểu. M. Weber là một trong những người đầu tiên chú ý đến đặc điểm vừa nêu của các khoa học về xã hội và văn hóa, nơi không thể chia tách khách thể và chủ thể của việc phân tích. Vì thế ông cho rằng các khoa học này cần sử dụng đồng thời cả phương pháp thấu hiểu lẫn phương pháp giải thích. Cái thể thức có thể liên kết chúng làm một được M. Weber gọi là "sự thấu hiểu có giải thích". Từ đó việc công nhận xã hội và văn hóa là những đối tượng đặc biệt của phân tích khoa học và đòi hỏi những phương pháp đặc biệt trên phương diện tổng hợp, thường xuyên được đề cập tới ở nước ngoài trong khuôn khổ các khuynh hướng khoa học như xã hội học thấu hiểu (Ph. Znaneski, U. Tomas…), hiện tượng học (A. Sius …), xã hội học văn hóa (Ph.Kh. Tenbruk, P.Bourdier…), và trong khoa học Nga là những người bênh vực văn hóa học xã hội và xã hội học văn hóa. Trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng nghiên cứu văn hóa vừa nêu, ở những thập niên gần đây xuất hiện nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu muốn khắc phục những điểm hạn chế của cả cách mô tả dân tộc học, lẫn chủ nghĩa hình thức của các phương pháp cấu trúc chức năng và hình thành những phương pháp phân tích bằng con đường thấu hiểu văn hóa, cho phép chuyển thành sự diễn giải xã hội học các tư liệu lịch sử văn hóa.

Cách đặt vấn đề về sự cần thiết giải quyết các nhiệm vụ phức tạp như vậy đã được chuẩn bị bằng cả một thời kỳ trước đó trong sự phát triển của tri thức văn hóa học: trong nó in rõ dấu ấn của một loạt giai đoạn tuần tự, trong khuôn khổ của chúng, các phương pháp đặc thù của phân tích văn hóa đã tạo dựng và hình thành nên các mô hình nhận thức nhất định.

Giai đoạn đầu tiên trong phân tích văn hóa một dân tộc hoặc một thời kỳ lịch sử xa xôi nào đó được phát triển trong khuôn khổ giải quyết các vấn đề nhân văn của tư liệu, chủ yếu mang tính chất mô tả kinh nghiệm. Ở giai đoạn này, các phương pháp được sử dụng cho phép các nhà nghiên cứu tháo gỡ những rào cản "không hiểu" thời đại khác hoặc nền văn hóa khác. Ở đây, việc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau là nhằm hướng tới làm rõ các chứng cớ để giải thích và đạt tới cấp độ lý luận. Đồng thời, được tạo dựng và được phổ biến là mô hình phân loại và mô hình miêu tả để nhận biết văn hóa. Các mô hình này chỉ đưa ra những mô tả cấu hình hoặc mô tả nền văn hóa như những chỉnh thể mà không chỉ rõ được mối quan hệ nhân quả và các chức năng của hiện tượng được nghiên cứu.

Giai đoạn tiếp theo sử dụng các phương pháp tiếp cận văn hóa học so sánh các nền văn hóa khác nhau, điều này đòi hỏi phải sử dụng một quang phổ rộng hơn các phương tiện phân tích và khái niệm chuyên ngành đặc thù. Đồng thời, các nhà văn hóa học thường hay sử dụng các phương pháp của triết học, lôgíc học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học, ký hiệu học, sử học, cũng như các thể thức phân tích trên phương diện liên ngành - cách tiếp cận cấu trúc, chức năng, mô hình hóa,… Trong khuôn khổ của cấp độ phân tích này, các mô tả đặc tính và mô tả văn hóa riêng lẻ dường như vẫn còn tản mạn, chưa gắn kết với nhau do sự không đồng loại của chúng. Ở giai đoạn này, các mô hình nhận thức văn hóa được xây dựng là mô hình liên tưởng và mô hình chức năng.

Một giai đoạn khác của phân tích văn hóa gắn liền với việc làm lộ rõ các đặc điểm tổng hợp, chủ đạo, quyết định của văn hóa: cơ cấu cốt lõi và tính ổn định của nó, các cấu trúc và khuôn mẫu quan trọng nhất (những đặc điểm thế giới quan, các thiết chế truyền thống,…). Còn một cấp độ phân tích văn hóa nữa gắn với việc tìm hiểu và giải thích các xu hướng và đặc điểm của văn hóa dường như đối lập với cơ cấu cốt lõi, với các hệ hình quan trọng nhất của nó, nhưng không xuất hiện như những gì xa lạ đối với các hệ hình đó, mà tương quan với chúng theo một cách thức xác định (đó có thể là các tà thuyết, các cuộc cách mạng cực đoan, các hiện tượng phản văn hóa,…). Ở hai bình diện phân tích cuối cùng, xem xét văn hóa trên cấp độ những biến đổi năng động qui mô lớn của nó và sự phát triển của văn minh nói chung không thể không sử dụng các phương pháp của khoa học nhân văn, vốn có khả năng khái quát lớn, khả năng nhận thức lớn để nhìn thấy đằng sau các hiện tượng cụ thể bên ngoài của văn hóa các mối quan hệ sâu xa và các sơ đồ ý thức. Ở cấp độ phân tích văn hóa này, xuất hiện nhu cầu xây dựng các mô hình hệ thống, cũng như các mô hình động trong nhận biết văn hóa.

 Cuối cùng, có một nhóm các phương pháp phân tích văn hóa trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng khoa học, trước hết là thuyết tiến hóa, thuyết khuyếch tán, cấu trúc luận, chức năng luận, nhân học hành động, nhân học nhận thức,… Như vậy, trong tri thức văn hóa học chỉ sử dụng các phương pháp có khả năng giải quyết các nhiệm vụ ở cấp độ nhận thức phức hợp, có thể kết hợp sự lựa chọn của các phương pháp hoàn toàn khác nhau, lấy từ các hệ hình khái niệm lý thuyết khác nhau. Mỗi một phương pháp sẽ mất đi tính chất tự thân trọn vẹn trước kia, và tiếp nhận những đặc tính bổ sung tương hỗ, sự liên hợp đặc biệt với các nguyên tắc nhận thức, các thể thức và thủ pháp phân tích khác nhau. Điều đó cho phép có được những nghiên cứu văn hóa học phản ánh đúng cái đối tượng siêu phức tạp của nó là văn hóa.

Bách khoa toàn thư văn hóa học thế kỷ XX

Nguồn: hoidantochoc.org.vn (30/8/06)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.