Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 10/03/2008 15:34 (GMT+7)

Các nhà nho Việt Nam: Yêu như thế nào?

Nhà Nho, một mẫu nhân vật trí thức đã từng tồn tại và đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình lịch sử của xã hội Việt Nam suốt thời kỳ trung đại sang tới thời kỳ cận đại. Kể từ lớp nhà Nho cuối cùng - thế hệ của những Tản Đà, Ngô Tất Tố, Bùi Kỷ, Lê Thước, Phan Võ v.v... cho đến nay thì thời gian đã quá xa để chẳng còn ai, bằng những điều "thực mục sở thị", giúp chúng ta trả lời câu hỏi: "Các nhà Nho Việt Nam đã yêu như thế nào?".

Vả chăng, hẳn cũng không mấy ai trong số chúng ta - những con người của ngày hôm nay - lại tự đặt cho mình câu hỏi ấy. Ta quen hình dung về nhà Nho theo hai kiểu diện mạo. Hoặc là nghiêm trang đĩnh đạc, trí lự thâm viễn, đầy tinh thần xả thân thủ nghĩa, hết lòng vì nước, vì dân, nêu một tấm gương đạo đức ngời ngời. Hoặc là rất ư cũ kỹ, nhếch nhác, bảo thủ, ương gàn, lẩm cẩm, đại diện cho một thứ lực cản đáng thương và đáng buồn cười đối với sự đi lên của xã hội văn minh. Trong cả hai trường hợp, đều có vẻ như chẳng mấy thích hợp nếu ta bàn đến chuyện luyến ái của nhà Nho. Thậm chí, có vẻ như mẫu nhân vật trí thức này đã bị gạt ra ngoài rìa mối bận tâm về cái sự vân vi muôn đời của nhân loại.

Nhưng, với tư cách là con người sống trong xã hội người, không lẽ nhà Nho không hề biết đến, không hề được nếm trải cái vị đắng hoặc vị ngọt đặc trưng của "tâm trạng khi yêu"?

Chúng ta hãy thử cùng đọc bài thơ sau: " Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng/ Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng/ Ngoài ấy dù còn áo lẻ/ Cả lòng mượn đắp ấm hơi cùng". Xin mạo muội (loàn đan) có lời hỏi cô: nơi cô, nếu còn đơn chiếc, thì hãy rộng lòng thương kẻ lạnh lùng này, cho mượn manh áo lẻ rồi đắp cùng nhau để chung hơi ấm. Đây đích thực là một lời tỏ tình. Rất duyên dáng, rất tế nhị, rất lả lơi, rất đằm thắm, và rất tình.

Thơ nào vậy? Xin thưa, đây là một bài rút từ mục “Thơ tiếc cảnh” của Quốc âm thi tập, và tác giả của nó, không ai khác ngoài Nguyễn Trãi - người được coi là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong rừng Nho thế kỉ XV, nhà hoạch định chiến lược cho việc thiết lập một nhà nước Đại Việt Nho giáo hóa.

Không thể có lời đáp chính xác cho câu hỏi về nhân vật "khách lầu hồng" được nói tới ở bài thơ này, nhưng chắc rằng, để viết được những câu thơ tình tứ đến dường ấy, nhà Nho Nguyễn Trãi đã phải thực sự yêu, thực sự sống trong cái cảm thức riêng có của kẻ đang yêu ở mọi nơi và ở mọi thời. Một phản chứng trước cái định lệ trong nhận thức, rằng đã là nhà Nho thì không biết yêu!

Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, trong toàn bộ trước tác của Nguyễn Trãi, rộng hơn, trong toàn bộ văn chương Nho giáo Việt Nam cho đến trước thế kỷ XVIII, những bài thơ như trên là cực kỳ hiếm hoi (nó có vẻ như nhà Nho đã làm thơ tình do... bạo phổi đột xuất!).

Dễ hiểu thôi. Xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, trong sự hình dung phổ quát của nhà Nho, quan hệ giữa một người nam và một người nữ (không cùng huyết thống) một cách chính danh, chỉ có thể là quan hệ hôn nhân chứ không có quan hệ tình nhân.

Mà trong hôn nhân, mối quan tâm thực sự, được đề cập một cách công khai, được điển phạm hóa qua lễ giáo Nho giáo thì lại chỉ bó hẹp vào mục đích "tái sản xuất ra bản thân đời sống" (nghĩa là... duy trì nòi giống). Không có chỗ cho thứ tình cảm tương tự như cái mà ngày nay ta gọi là tình yêu.

Nam nữ lấy nhau do cha mẹ sắp đặt, và họ cần phải hiểu họ lấy nhau là để làm nghĩa vụ với gia đình, ăn ở với nhau theo nghĩa, đối xử với nhau theo lễ. Vợ chồng phải biết "kính nhau như khách" chứ không phải yêu nhau say đắm. Nói chung, môi trường giáo dục Nho giáo chẳng hề là mảnh đất màu mỡ cho sự nảy nở của loại tình cảm "tự nhiên nhi nhiên" như tình yêu.

Hoặc giả nếu có chăng nữa, thì cái quan niệm "văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của Nho giáo lập tức chắn một bức tường sừng sững trước nhu cầu bộc lộ cảm xúc yêu đương bằng văn chương của tác giả nhà Nho. Văn, là để nói những chuyện thế đạo nhân tâm, những việc quốc gia đại sự, chứ không phải dành cho dăm ba điều ái tình lặt vặt! Tất cả những nguyên do này giúp ta hiểu tại sao trong văn chương của nhà Nho Việt Nam nhiều thế kỷ, thơ tình gần như bặt tiếng.

Từ thế kỷ XVIII trở đi, tình hình đã khác. Những biến động mạnh mẽ trong lòng xã hội Việt Nam tạo nhiều điều kiện để nhà Nho nảy sinh khát vọng giải phóng tình cảm cá nhân vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của Nho giáo. Tình yêu được nhà Nho cảm nhận đa diện hơn và cũng có rộng đất để thể hiện hơn.

Ngay trong thế kỷ XVIII, thi đàn Việt Nam đã xuất hiện hai tập thơ lạ, là "Khuê ai lục" của Ngô Thì Sĩ và "Đoạn trường lục" của Phạm Nguyễn Du. Lạ, không phải vì cả hai đều là thơ chồng khóc vợ. Mà lạ, vì tiếng khóc ở đây tột cùng ai oán bi thương, tiếng khóc nhỏ máu giống của người tình nhân mất tình nhân hơn là tiếng khóc của người chồng mất vợ.

Bài "Đề minh tinh hậu diện nhất tuyệt" (Bài thơ tuyệt viết ở sau cái minh tinh) của Phạm Nguyễn Du chẳng hạn: " Tôi với nàng chính là một người/ Sao đang sum họp lại chia lìa nhau như thế?/ Nàng đem một nửa là hương thơm thanh sạch đi rồi/ Để một nửa là thân tôi như điên dại này ở lại" (dịch nghĩa từ nguyên tác chữ Hán). Ta hãy lưu tâm nhiều hơn đến hai câu cuối bài thơ.

Nếu ta nhớ rằng phải gần hai trăm năm sau, trong thơ của lớp tác giả tây học rất mô - đéc mới có câu "Người đi chiếm hồn tôi một nửa/ Một nửa hồn kia hóa dại khờ", thì mới thấy là cường độ tình yêu ở học trò cụ Khổng, cụ Mạnh không hề thua sút chút nào so với bọn hậu bối!

Thi đàn Việt Nam thế kỉ XIX có một tác giả khá đặc biệt - tiếc rằng cho đến nay ông vẫn chưa được đánh giá đúng mức - là Dực Tôn hoàng đế, tức vua Tự Đức. Ai đã từng đọc những lời phê của Tự Đức trong bộ "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" sẽ thấy chất nhà Nho trong ông cực đậm.

Nhất là ở những đoạn ông phê về chuyện quan hệ nam nữ trong các triều đại trước, thì không hồ nghi gì nữa, đó là quan điểm đạo đức của một nhà Nho rất nghiêm khắc. Vậy mà Tự Đức cũng chính là tác giả của bài "Khóc Thị Bằng" được ông Trần Trung Viên chép lại trong "Văn đàn bảo giám".

Bài thơ có những câu: " Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi/ Mối tình muốn dứt càng thêm bận/ Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi". Chế độ chuyên chế phương Đông vốn vẫn dành cho bậc đế vương quyền ưu đãi khổng lồ trong việc... chiếm dụng phụ nữ. Để hoàng đế phải khóc một bà phi (đã chết) trong đám phi tần đông đúc ở hậu cung thật chẳng dễ chút nào.

Đã vậy, xót thương đến mức muốn đập vỡ tấm gương nàng vẫn soi ngắm để mong tìm ra khuôn mặt cũ, muốn gom mớ y phục nàng đã từng dùng để hòng giữ chút hương xưa, thì đó quả không còn là sự thương xót bình thường nữa rồi. Đó là một tình yêu đã đến độ khắc cốt ghi tâm.

Trong toàn bộ trước tác của mình, hầu như không một lần thi hào Nguyễn Du tự thể hiện niềm vui hay nỗi buồn cá nhân trước những trải nghiệm được mất khi yêu. Điều đó khiến hậu thế phải day dứt mãi với thắc mắc: có lẽ nào Tố Như... chưa bao giờ biết yêu?

Bù lại, khi xây dựng nhân vật Kim Trọng trong kiệt tác "Đoạn trường tân thanh", ông đã cho ta hình ảnh của một nhà Nho yêu đầy ấn tượng. Gặp nàng Kiều trong tiết thanh minh, chàng Kim bị "tiếng sét ái tình" mê hoặc rồi ngay lập tức mắc tương tư, căn bệnh nan y muôn thuở của loài người.

"Biểu hiện lâm sàng" như sau: " Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao/ Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng/ Phòng văn hơi giá như đồng/ Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan/ Mành Tương phân phất gió đàn/ Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình". Bỏ bê trễ tràng cả đàn với sách, thời gian biểu bình thường của chàng Kim bị đảo lộn.

Nhưng tương tư suông chẳng giải quyết được gì hết, chàng đã tìm phương án hành động, "tiếp cận đối tượng" bằng cách "lấy điều du học hỏi thuê" một căn nhà sát nhà của người trong mộng. "Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông", sự "kiên nhẫn nằm vùng" của chàng Kim cuối cùng đã được đền đáp, khi mà - một cách khá cắc cớ - cành kim thoa bỗng đâu lại lọt vào tay chàng!

Tận dụng tối đa cơ hội ngàn năm có một, chàng "phát huy tư duy sáng tạo", thêm vào vật bắt được ấy "xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông" để làm "hành trang" lúc gặp lại nàng Kiều (các chàng trai thời nay có lẽ cũng chỉ galăng đến thế là cùng!).

Và tiếp đến là những lời tỏ tình đáng được đưa vào giáo khoa thư về tình yêu: " Rằng, từ ngẫu nhĩ gặp nhau/ Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn/ Xương mai tính đã rũ mòn/ Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay/ Tháng tròn như gửi cung mây/ Trần trần một phận ấp cây đã liều/ Tiện đây xin một hai điều/ Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?".

Ngẫu nhiên gặp nhau đã khiến anh luôn thầm trông trộm nhớ đến em. Tưởng đã rũ mòn vì chờ đợi, ai ngờ còn có cơ hội hôm nay. Thời gian vừa qua, anh đã hạ quyết tâm gặp lại em cho bằng được, dù phải chết cũng chẳng tiếc thân (điển tích "Ấp cây" kể chuyện chàng Vỹ Sinh, người nước Lỗ thời Xuân Thu, Trung Quốc, hẹn với người con gái gặp nhau dưới  chân cầu. Người con gái không đến, Vỹ Sinh thủ tín, cứ ngồi đợi mãi, đến khi nước lên to cũng không chịu bỏ đi, cứ ngồi ôm trụ cầu mà chịu chết đuối). Tiện đây, xin hỏi em có đoái thương đến tấm thân bèo bọt này chút nào chăng?

Khi nàng Kiều ngần ngừ "em còn nhỏ lắm, chưa biết gì, phải chờ cha mẹ em quyết định", chàng Kim đã thuyết phục vô cùng khôn khéo: "Sinh rằng rày gió mai mưa/ Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi/ Dầu chăng xét tấm tình si/ Thiệt đây, mà có ích gì đến ai?/ Chút chi gắn bó một hai/ Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh/ Khuôn thiêng dù phụ tấc thành/ Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời/ Lượng xuân dầu quyết hẹp hòi/ Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!".

Sự đời thay đổi chẳng biết thế nào, không dễ mà có cơ duyên gặp gỡ như chúng ta đây. Vả lại, nếu thiệt cho chúng ta thì liệu có ích gì cho ai? Chi bằng mình cứ... yêu nhau trước hẵng, rồi anh sẽ "báo cáo" với cha mẹ em sau. Nghe lời cha mẹ quá có khi lỡ mất cả tuổi xuân. Hoặc giả cha mẹ em không bằng lòng, chẳng hóa ra công đeo đuổi của anh vô ích hay sao?

Như vậy đấy, có co có duỗi, có đẩy có kéo, thủ thỉ ngọt ngào mềm mại uyển chuyển, chàng Kim đã thành công trong việc chiếm được tấm lòng của kiều nữ họ Vương. Chẳng khó khăn gì để ta nhận ra, trong khi vào vai kẻ chinh phục trái tim người con gái, chàng Kim đã "bỏ xó" lời dạy của thánh hiền; ứng xử của chàng vượt ra ngoài khuôn phép nhà Nho cứng nhắc để tuân theo cái logic muôn đời của tình yêu đôi lứa!

Trong giai đoạn hậu kỳ của Nho giáo ở Việt Nam (cuối thế kỷ XIX - hai, ba thập niên đầu thế kỷ XX), các nguyên tắc đạo đức chi phối quan niệm và hành vi ứng xử của đạo thánh hiền đã dần trở nên mất thiêng đối với nhà Nho.

Thêm vào đó, sống trong bầu khí quyển văn hóa mà sự khiên diễn của những "mưa Âu gió Mỹ" ngày một mạnh mẽ, thế hệ các nhà Nho Việt Nam từ Vũ Phạm Hàm, Dương Lâm, Dương Khuê đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu càng tỏ ra bạo dạn hơn trong sự thể hiện những cảm xúc đa dạng của tình yêu. Điều đó dễ hiểu, và nó hiển nhiên đến mức thiết nghĩ chẳng cần phải chứng minh.

Điều ta có thể rút ra từ việc tìm hiểu xem các nhà Nho Việt Nam đã yêu như thế nào, đó là: họ yêu chẳng kém gì nam nữ ở thời bùng nổ Internet! Có khác chăng thì chỉ là ở hình thức của sự thể hiện mà thôi

Nguồn: cand.com.vn (27/02/08)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Họp Đoàn đại biểu Liên hiệp Hội Việt Nam dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB ngày 20/4/2026 của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, chiều ngày 8/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức họp Đoàn đại biểu dự đại hội để triển khai thực hiện.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.