Cả một châu lục đang nhuộm đỏ
Có thể nhắc lại quá trình thắng lợi của các đảng cánh tả trong các cuộc bầu cử Tổng thống ở châu Mỹ Latin như sau:
Chile, trong cuộc bầu cử Tổng thống 1999 – 2000, lãnh tụ liên minh trung tả các đảng vì dân chủ, Ricardo Lagos đã trúng cử và là Tổng thống từ 2000 đến 2006.
Brazil, trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 27 tháng 10 năm 2002, lãnh tụ Đảng những người Lao động, Luiz Inacio Lula da Silva trúng cử.
Arhentina, ngày 27 tháng 4 năm 2003, bầu Tổng thống, ông Nestor Kirchner, lãnh tụ Mặt trận vì thắng lợi trúng cử.
Uruguay, ngày 31 tháng 10 năm 2004, bầu Tổng thống, ông Tabare Vazquez, lãnh tụ Đảng trung tả Mặt trận rang lớn, trúng cử.
Chile, ngày 15 tháng 1 năm 2006, bầu Tổng thống, bà Michelle Bachelet, lãnh tụ trung tả, Đảng xã hội, trúng cử.
Peru, ngày 4 tháng 6 năm 2006, bầu Tổng thống và Quốc hội lãnh tụ trung tá Alen Garcia được bầu. Ông này đã lãnh đạo đất nước năm 1985 - 1990, nhưng bị thất bại vì lạm phát nội chiến.
Mehico, ngày 2 tháng 7 năm 2006, bầu Tổng thống Andreas Obrador, lãnh tụ Đảng cách mạng dân chủ, thị trưởng thủ đô Mehico City, đã dẫn đầu trong cuộc kiểm phiếu sơ bộ, nhưng ngày 6 tháng 7, Viện bầu cử liên bang tuyên bố ông Felipe Calderin, lãnh tụ phái hữu đã trúng cử chỉ hơn có 0,58% số phiếu. Phái tả đã cho rằng đã có sự gian lận trong việc kiểm phiếu, kiện lên Tòa án bầu cử liên bang nhưng bị bác.
Brazil, ngày 1 tháng 10 năm 2006, bầu Tổng thống, Thống đốc bang và Quốc hội, Tổng thống Luiz Inacio Lula da Silva được bầu lại.
Ecuador, ngày 15 tháng 10 năm 2006, bầu Tổng thống và Quốc hội, lãnh tụ phái tả Rafael Correa đã được bầu. Ông này chống buôn bán tự do, đòi đóng cửa căn cứ quân sự Mỹ ở nước này.
Nicaragua, ngày 5 tháng 11 năm 2006, bầu Tổng thống và Quốc hội. Nguyên lãnh tụ Đảng Standinistas, Daniel Ortega bị mất ghế năm 1990, đã được bầu lại.
Venezuela, ngày 3 tháng 12 năm 2006, bầu Tổng thống, Tổng thống Hugo Chavez, người lãnh đạo phong trào cách mạng Bolivar đã được bầu lại cho một nhiệm kỳ 6 năm. Nước này nhờ giá dầu tăng đã vượt qua được khó khăn về kinh tế, thực hiện được chương trình tăng công bằng xã hội.
Bolivia, ngày 18 tháng 12 năm 2006, bầu Tổng thống và Quốc hội. Ông Evo Morales, người thổ dân, lãnh tụ đảng cánh tả đã trúng cử và là Tổng thống thổ dân đầu tiên ở châu Mỹ.
Như vậy là ở Nam Mỹ chỉ còn hai nước nhỏ Colombiavà Paraguay là còn do đảng phái hữu cầm quyền.
Từ đầu các năm 2000, các cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế đã làm rung động châu Mỹ Latin. Tăng trưởng và đầu tư nước ngoài đã giảm sút mạnh. Nghiêm trọng nhất là ở Arhentina, lôi kéo theo Uruguayvà Paraguay . Brazil cũng ở bờ của vực thẳm, sau thắng lợi của Lula. Nội chiến xảy ra ở Columbiavà chính phủ của Tổng thống Chavez ở Venezuela phải đương đầu với một sự chống đối quyết liệt. Xung đột xã hội xảy ra ở Peru . Hoa Kỳ phải tập trung vào chống khủng bố ít chú ý đến châu lục này. Trong bối cảnh ấy sau tháng 10 năm 2002, các đảng phái tả đã giành thắng lợi ở hết nước này đến nước khác, sau Venezuelavà Chile . (1)
Hiện tượng đang xảy ra ở CMLT là việc xuất hiện của các đảng “trung tả” ở Brazil, Arhentina, Uruguay, Bolivia, Peru, Ecuador... Vậy các đảng này có phải thuộc phái tả hay không? Chương trình của phái tả phải là: - Giảm sự không công bằng, - tăng mức sống, - sở hữu công và nhà nước lớn, - thuế thu nhập lũy tiến, - và thuế giá trị gia tăng giảm dần, - ngân sách chi cho phúc lợi và vịêc làm lớn, - xuất khẩu ít hơn thị trường trong nước, - quần chúng tham gia vào việc định chính sách... Nếu theo các tiêu chuẩn này thì các đảng trung tả cở CMLT chưa đạt tiêu chuẩn này. (2)
Tiêu chuẩn chung để đánh giá một đảng phái tả mới là xây dựng mạng lưới an toàn xã hội và hỗ trợ những người dễ bị tổn hại. Có hai ý kiến đảng phái tả mới: Kiểu 1 là kiểu dân túy, chống đế quốc, chống Mỹ và chống chủ nghĩa tự do mới như ở Venezuela, Bolivia, Mehico. Kiểu 2 là các đảng xã hội dân chủ ôn hoàn như ở Brazil, Arhentina, Chile, Uruguay . (3)
Nguyên nhân chủ yếu của việc phái tả giành được chính quyền là do trong hai thập kỷ qua, các nước này đã áp dụng cải cách vĩ mô và chính sách dựa chủ yếu vào buôn bán và tự do hóa tài chính, giảm điều tiết và khu vực công. Nền kinh tế không phát triển được, lạm phát giảm nhưng hoạt động kinh tế chậm chạp. Nhiều nước rơi vào khủng hoảng, nặng nhất là Mehico và Arhentina. Các đảng phái tả đã thắng lợi chủ yếu là do các nước của họ đã thất bại vì đã áp dụng đường lối của chủ nghĩa tự do mới, đã mất thị trường thế giới và bị giảm đầu tư nước ngoài và giá xuất khẩu. So với các nước châu Á thì họ tăng trưởng chậm hơn. Vì vậy ở các nước này dấy lên một sự chỉ trích chủ nghĩa tự do mới. Điều họ quan tâm nhất là giảm việc tư nhân hóa và tăng sự kiểm soát của nhà nước. Mở cửa thị trường làm cho các doanh nghiệp mất năng lực cạnh tranh. Chủ nghĩa tự do mới còn cản trở cả việc đấu tranh xã hội. Nạn tham nhũng cũng phát triển mạnh. (4, 5)
Mặc dù một số đảng phái tả giành được thắng lợi là nhờ chịu ảnh hưởng của Diễn đàn xã hội thế giới, nhưng sau khi trở thành đảng lãnh đạo thì họ không hoàn toàn áp dụng các xu hướng của DĐXH. (6)
Các nước do các phái tả mới lãnh đạo, nói chung vẫn thực hiện các chính sách phát triển thị trưởng. Điều họ cho là quan trọng là phải có một ngân sách cân bằng. Dưới áp lực của các doanh nghiệp nhiều lúc họ không thực hiện được các chính sách xã hội tích cực. DĐXH thường chống các vùng trao đổi tự do nhưng cách lãnh tự phái tả lại tán thành biện pháp này để đổi lại việc mở cửa thị trường của Hoa Kỳ. Tổng thống Lula ở Brazil tiếp tục đường lối tự do hóa của người tiền nhiệm. Tổng thống Kirchner của Arhentina áp dụng các biện pháp thoát khỏi khủng hoảng, cũng bệnh vực quyền lợi của các doanh nghiệp. Nói chung các lãnh tụ phái tả mới vẫn phải giữ các thể chế cũ và quyền lợi của các nhà tư bản. Họ chưa dám bênh vực quá mạnh quyền lợi của người lao động. Các nước CMLT do phái tả lãnh đạo về thực chất chưa khác các nước do phái hữu lãnh đạo mấy. Các nước này đã tăng trưởng nhanh hơn, do đã thực hiện thể chế thu thuế chặt chẽ hơn.
Riêng chỉ có Tổng thống Chavez ở Venezuela là có xu hướng dân túy rất mạnh. Ông đã tiến hành nhiều cải cách tiến bộ mang lại quyền lợi cho nhân dân và chống lại giới doanh nhân tư bản. ông liên kết chặt chẽ với Cuba và giúp họ thoát khỏi khó khăn của sự cấm vận của Hoa Kỳ. Ông tuyên bố rõ ràng chính sách thiên tả và xã hội chủ nghĩa. (7)
Phong trào ở CMLT là một phong trào nhân dân dân tộc, đòi chủ quyền chống đế quốc chủ nghĩa. Đây cũng là phong trào chống toàn cầu hóa tự do chủ nghĩa mới do các Diễn đàn xã hội thế giới phát động. CMLT đã có một thời kỳ, từ các năm 1930 đến 1960, mà chủ nghĩa dân túy thịnh hành. Thời kỳ này là thời đại vàng, các nước có các lãnh tụ nổi tiếng như Peron ở Arhentina. (8)
Có một điểm chung của các chính phủ phái tả là việc chống lại chủ nghĩa tự do mới, chống sự đồng thuận Washington, trong đó các điểm quan trọng nhất là trật tự thuế khóa, cải cách thuế, tự do hóa thị trường, khuyến khích đầu tư nước ngoài, tư nhân hóa và giảm sự kiểm soát. Nguyên nhân là do các nước Mỹ Latin đã thực hiện các biện pháp này từ các năm 1990, nhưng không cải tiến được tăng trưởng. Điều họ chú ý nhất là thực hiện công bằng xã hội và giảm nghèo. Đồng thời các nước Mỹ Latin đã thắt chặt các mối liên kết trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh và chống các chính sách của các nước đã phát triển. (9)
Sự tan rã của phe XHCN đã khiến các nước CMLT phải đi tìm một mô hình phát triển mới. Khó khăn hiện nay của các đảng trung tả ở CMLT là không biết chủ nghĩa tư bản hiện đại sẽ thay đổi thế nào trong bối cảnh của cuộc cách mạng thông tin, của sự toàn cầu hóa tài chính hay của việc “xuyên quốc gia hóa của tư bản”. Chính sự toàn cầu hóa ấy đã đưa nhiều nước CMLT vào khủng hoảng. Các nước này đang chịu ảnh hưởng của sự nghèo dốt, thiếu vốn và xuất khẩu sản phẩm sơ cấp. Các nhà lý luận của vùng này cho rằng phải có một mô hình của chủ nghĩa tư bản năng suất cao và liên kết toàn vùng. Để thực hiện mô hình này cần chống chủ nghĩa đế quốc và cắt đứt với chủ nghĩa tự do hóa mới. Vì vậy muốn có phúc lợi và tiến bộ cho vùng phải chống chủ nghĩa tư bản một cách cơ bản và hướng vào triển vọng xã hội chủ nghĩa. Tất cả các thử thách giải phóng của thế kỷ XX đều thất bại.
CNXH không tương hợp với kinh tế thị trường và kinh tế thị trường không thể tồn tại nếu không có tư nhân hóa sở hữu tư liệu sản xuất. Theo họ CNXH là sở hữu nhà nước, kiểm soát kinh tế và phân phối nguồn lợi từ trên, có thêm vào một ít sở hữu tư nhân và tập thể. Họ chưa có kinh nghiệm về CNXH thị trường như ở các nước châu Á.
Không nghi ngờ gì phái tả Mỹ Latin muốn có dân chủ và cả chủ nghĩa xã hội nữa. Các thất bại của cách mạng triệt để của các năm 1960 và 1970 không làm cho họ từ bỏ sự không tưởng ấy. Sau khi so sánh tất cả các mô hình XHCN khác nhau họ đề xuất một sự không tưởng mới gọi là “dân chủ triệt để” (radical democracy).
Họ không thỏa mãn với việc xây dựng một xã hội công bằng trong đó có sự phong phú về kinh tế, tự do chính trị, công bằng thu nhập có thể tồn tại đồng thời được. Họ cho rằng chủ nghĩa tư bản dân chủ không thể giải quyết được các vấn đề của loài người. Trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh có người được, người mất và có người được nhiều hơn người khác, nhưng mức sống của đa số sẽ tăng lên. Trong văn hóa XHCN việc đi tìm một giải pháp “tổng thể” vẫn là một điều mong muốn. Phái tả CMLT tiếp tục không công nhận chủ nghĩa tư bản là hướng tới ý thức hệ thống trị. (10)
_____________
Tài liệu dẫn:
1. A. Rouguiộ: Une autre Amộrique latine sort des urnes, 2006.
2. J. Petras, “Centre-left” regimes in Latin America, 2006.
3. M. Osawa, Derining Latin America’s left governments, 2006.
4. J. Castaneda, Latin America’s two left wings, Newsweek International, 2006.
5. C. Katz, Amerique latine: Centregauche, nationalisme, et socialisme, 2003.
6. E. Amann, The Political economy of the New left in Latin America: does the bell toll for neo-liberalism? 2006.
7. D. Collin, Le soleil se lốve-t-il đ l’Ouest? 2006.
8. J. Green, The rebirth of populism in Latin Americaposes a powerful challenge to the neoliberal order, 2006.
9. J. C. Mareno - Brld, I. Paunovic, Old wine in new bottles? Reviata, 2006.
10. A. Romero, Radical democracy: the new left-wing utopia for Lain America, World Affairs, 1996.








