Bộ nữ phục của người Dao Thanh Y
Khăn đội đầu: Làm bằng vải trắng, hình vuông. Khăn chìa ra phần diềm, còn lại được thêu kín hoa văn hình sao tám cánh, hình hoa lá và các chấm tròn bằng chỉ đỏ đen. Hai góc chéo đính nhiều chuỗi hạt.
Mũ: Hình nón cụt. Cốt mũ làm bằng xơ mướp. Bên ngoài phủ một lớp chỉ đen. Đỉnh mũ giống như một cái đĩa gắn hoa. Quanh thành mũ gắn nhiều mảnh bạc hình tròn, cái nọ liền với cái kia tạo thành 2 lớp song song.
Áo dài: Làm bằng vải tự dệt nhuộm chàm, là loại áo tứ thân, trong đó có một thân trước ngắn. Cửa tay áo đắp bằng vải trắng. Nẹp cổ viền bên ngoài bằng vải trắng, lui vào trong thêu chỉ đỏ và xanh. Trong cùng là dải hoa văn. Thân nẹp cổ mỗi bên đính một chuỗi hạt cườm, đầu mỗi chuỗi hạt cườm là một chùm tua đỏ. Nẹp ngực từ chân cổ áo trở xuống tới gấu áo viền bằng vải đỏ. Khi mặc áo, thên bên trái vắt qua thân bên phải rồi buộc dây lưng ra ngoài. Dây lưng được gấp đôi lại rồi đầu nọ luồn vào đầu kia ngay trước bụng.
Yếm: Hình vung, mỗi chiều dài 30cm, gồm 2 nửa khác nhau. Một nửa là vải màu trắng, nửa dưới là vải màu chàm. Nửa trên, nơi làm cổ yếm được cắt thành một đường cong nhỏ. Hai đầu của đường cong này đính hai dây để buộc sau gáy khi mang yếm.
Từ cổ yếm trở xuống tới 2/3 của nửa trên là một hình chữ nhật bằng vải khác màu và hai dải có hoa văn trang trí. Dải trên là một đường gấp khúc tạo bởi từ ba đường thêu: giữa màu đen, hai bên màu vàng. Dải dưới được thêu bốn ô vuông trong một khung hình chữ nhật.
Dây lưng: Được dệt bằng chỉ nhiều màu. Sọc màu đen ở chính giữa, hai bên là sọc màu đỏ rồi tiếp đến là sọc màu vàng, cuối cùng là sọc màu đỏ.
Quần: Làm bằng vải màu chàm. Quần cộc dài 40cm, được tạo bởi 3 vuông vải khổ rộng 40cm. Còn đũng la một vuông vải gấp chéo sang hai ống hai bên.
Xà cạp: Là một đoạn vải hình chữ nhật màu đen dài 135cm, rộng 10cm. Dây buộc xà cạp dệt bằng chỉ màu đỏ, vàng và trang trí hoa văn đơn giản. Dây buộc dài 40cm, rộng 2cm.
Nhìn chung bộ nữa phục người Dao Thanh Y ở Hoành Bồ khá đơn giản, ít trang trí hoa văn như các nhóm Dao khác.
Nguồn: Kinh tế VAC, số 20, 15/5/2006, tr 15







