Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 16/09/2011 19:15 (GMT+7)

Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc

Từ khi Các mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Công hòa ra đời, việc bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và gìn giữ biên cương luôn là nhiệm vụ thiêng liêng và trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, được thực hiện bằng sức mạnh quốc phòng, hoạt động ngoại giao và các mối giao lưu kinh tế, văn hóa với các nước láng giềng.

Đầu năm 2011, Nhà xuất bản Công an Nhân dân cho ra mắt cuốn sách Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc do một tập thể tác giả công tác tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sử học, Ủy ban Biên giới Quốc gia (Bộ ngoại giao) biên soạn. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Cục Thông tin Đối ngoại thuộc Bộ Thông tin Truyền thông phối hợp tổ chức đề tài.

Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung cuốn sách, chúng ta điểm qua một vài sự kiện lớn trong tiến trình đàm phán về vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

Sau Chiến tranh thế giới II, ở Đông Á đã ra đời hai Nhà nước độc lập là Việt Nam Dân chủ Cộng hào (1945) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949). Đầu năm 1950, quan hệ ngoại giao giữa hai nước được chính thức thiết lập.

Hơn ba năm sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tháng 11 – 1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai bản Công ước về hoạch định biên giới đã ký kết năm 1887 và năm 1895 giữa chính quyền Pháp ở Đông Dương và triều đình nhà Thanh ở Trung Quốc, giải quyết mọi cuộc tranh chấp bằng con đường đàm phán.

Tháng 4 – 1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của Việt Nam, tôn trọng đường biên giới lịch sử được hai bản Công ước Pháp – Thanh năm 1887 và năm 1895 xác lập.

Nhưng sau đó, nhân dân cả nước ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ. Phải đến sau Hiệp định Pari tháng 1-1973, quân Mỹ rút khỏi nước ta, vấn đề đàm phán về biên giới Việt Nam – Trung Quốc mới được khởi động. Cuộc đàm phán lần thứ nhất được tiến hành vào tháng 9-1974. Nhưng do tình hình khu vực khi đó có nhiều biến động, quan hệ giữa hai nước hết sức khó khăn, các cuộc đàm phán tuy vẫn tiến hành nhưng không đem lại kết quả.

Sauk hi quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc được bình thường hóa, ngày 7-11-1991 hai bên đã ký bản Hiệp ước tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước. Trải qua nhiều lần trao đổi, ngày 19-10-1993 bản Thỏathuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc được ký đã đưa cuộc đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền đi vào thực chất. Kết quả là, ngày 30-12-1999, chính phủ hai nước đã ký “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Cộng hòaXã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”

Trên cơ sở Hiệp định năm 1999, hai bên phối hợp tiến hành khảo sát thực địa để phân giới cắm mốc trên suốt chiều biên giới dài 1.449,566 km với 1970 cột mốc (1.548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ, chưa kể 1 cột mốc ngã ba biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào). Ngày 31-12-2008, công tác phân giới cm mốc trên toàn biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc đã cơ bản hoàn thành.

Tiếp theo là việc đàm phán và ký kết các nghị định thư về công tác phan giới căm mốc, về quy chế quản lý biên giới, về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu. Ngày 14-7-2010 hai bên tuyên bố chính thức hoàn tất công tác hoạch định biên giới và phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc.

Cuốn sách Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được cấu trúc thành 5 chương; đã giới thiệu khái quát những nét cơ bản về vùng biên giới và đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc từ lịch sử dựng nước và giữ nước đến ngày nay.

Chương I, nêu lên những nét chung về địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn của các tỉnh vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Qua đây, bạn đọc thấy rõ những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú của vùng biên cương cùng công lao khai phá dựng xây cuộc sống của các cộng đồng dân tộc hôm nay.

Chương II, đề cập đến cương vực và cươnggiớinước ta qua các thời kỳ lịch sử cho tới trước khi thực dân Pháp hoàn thành việc thôn tính Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Có thể thấy ở đây những trang sử hào hùng của dân tộc nhằm gìn giữ cương vực, bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Chương III, phân tích bối cảnh lịch sử và nội dung của hai bản Công ước Pháp – Thanh năm 1887 và 1895. Theo hai bản Công ước này, các chính quyền thời đó đã xây dựng đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc với 314 cột mốc. Mặc dầu có những điểm bất lợi do hoàn cảnh lịch sử khi đó tạo nên và một số cột mốc bị hư hỏng, xê dịch nhưng dẫu sao, đó cũng là căn cứ có tính pháp lý được coi là cơ sở để hai Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đàm phán về đưng biên giới hiện tại.

Chương IV, nêu rõ những cơ sở pháp lý quốc tế và quá trình đàm phán dẫn đến việc ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 1999. Qua đây, người đọc có thể hình dung những thuận lợi và khó khăn trong quá trình đàm phán, những vấn đề gay cấn được đặt ra một cách thẳng thắn, những giải pháp hợp lý để bảo vệ lợi ích của cả hai bên. Ba địa điểm được coi là “nhạy cảm” về khu vực như Thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan và Cửa sông Bắc Luân được trình bày một cách rõ ràng, chi tiết, có kèm theo sơ đồ.

Chương V, phản ánh quá trình tiến hành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc và những công việc tiếp tục triển khai. Việc chuyển từ các thỏa thuận trên văn bản ra thực địa là một quá trình hết sức gian khổ vì rừng sâu núi cao, mưa nguồn nắng hạn, nhiều địa điểm không hoàn toàn giống như trong văn bản, phải tính toán từng thước đất trên cơ sở sử dụng các phương tiện đo đạc hiện đại qua vệ tinh. Việc vận chuyển các khối bê tông nặng hàng trăm kilogam lên các vị trí hiểm trở để xây cột mốc cũng là thách thức lớn phảiđộng viên biết bao công sức của nhân dân, chiến sĩ biên phòng và các đội phân giới cắm mốc mới có thể hoàn thành.

Phần Kết luận đánh giá kết quả và ý nghĩa của việc hoạch định và phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, nêu rõ nhiệm vụ củng cố, gìn giữ và xây dựng đường biên giới Việt – Trung thành đưng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Cuốn sách có phần Phụ lục gồm toàn văn bản Hiệp ước hoạch định biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc năm 1999, Luật về biên giới quốc gia của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng một số sơ đồ và ảnh chụp về quá trình đàm phán và phân giới cắm mốc.

Cuốn sách đã dành phần quan trọng để phân tích ý nghĩa của việc ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Có thể tóm tắt trong mấy ý sau :

1. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai nước xác lập được một đường biên giới trên đất liền hoàn chỉnh, chính quy và bên vững với một hệ thống mốc quốc giới hiện đại, đặt nền tảng cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghi, hợp tác và phát triển giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc.

2. Hiệp ước là cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xác định đường biên giới ổn định lâu dài và bền vững giữa hai nước. Khắc phục những hạn chế của Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895, Hiệp ước năm 1999 có lời văn mô tả chính xác, rõ ràng và là căn cứ quan trọng để hai bên tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa bằng kỹ thuật và phương tiện đo đạc hiện đại. Nó tạo cơ sở để các ngành chức năng tiến hành quản lý biên giới một cách hiệu quả, giải quyết các mâu thuẫn có thể nảy sinh trong thực tiễn về vị trí của đường biên giới, ngăn ngừa hiện tượng xâm canh, xâm cư, mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, đặc biệt là tạo điều kiện cho các nước địa phương biên giới hai bên củng cố an ninh, mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa.

3. Việc Ký kết Hiệp ước đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, trước hết là nhân dân vùng biên giới và góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới. Nó có ý nghĩa to lớn đối với việc xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác, đánh dấu một bước tiến trên tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Hiệp ước thể hiện tinh thần tôn trọng và vận dụng có hiệu quả những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về việc giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ, đàm phán hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tết cũng như trongquátrình xác lập đường biên giới giữa các quốc gia láng giềng.

4. Việt Nam đã giải quyết được hai trong ba vấn đề lớn về biên giới lãnh thổ trong quan hệ giữa hai nước. Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền và việc hoàn thành phân giới, căm mốc đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc; Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ được ký ngày 25-12-2000. Những kết quả đó cho thấy thiện chí và quyết tâm của Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi tranh chấp về vấn đề thứ ba là biên giới lãnh thổ, các vùng viển và thềm lục địa biển Đông với các nước láng giềng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Phần Kết luận nêu rõ: Từ đây đã xác lập một đường biên giới hoàn chỉnh, chính quy, hiện đại và bền vững giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đường biên giới ổn định lâu dài mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, góp phần củng cố hòa bình, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Xác lập được đường biên giới hiện đại và hoành chỉnh là một thành công lớn, song gìn giữ và xây dựng thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác phát triển là nhiệm vụ rất nặng nề, nhiều công việc còn đang ở phía trước. Củng cố những thành quả đã đạt được, chăm lo đường biên và mốc giới phải là hoạt động thường xuyên và cẩn trọng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia cho đời đời con cháu mai sau. Phát triển kinh tế từng địa phương trong khắp vùng biên giới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong từng làng bản, đẩy mạnh hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai miền biên giới, mở rộng giao lưu giữa nhân dân hai nước vốn có quan hệ láng giềng từ bao đời nay sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước, củng cố mối quan hệ láng giềng truyền thống Việt Nam – Trung Quốc, đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1 đến thăm và chúc Tết Liên hiệp Hội Việt Nam
Ngày 3/2, trụ sở Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN), đoàn cán bộ Sư đoàn 308 - Quân đoàn 1 do Phó Chính ủy Sư đoàn 308 - Đại tá Vũ Ngọc Lâm dẫn đầu đã đến thăm, tặng quà, chúc Tết cán bộ, công chức, người lao động LHHVN. Đây là hoạt động thường niên giữa hai bên trải dài suốt mấy chục năm qua kể từ khi hai đơn vị kết nghĩa.
VUSTA tổ chức Chương trình về nguồn tại Khu di tích lịch sử K9 chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng
Ngày 03/02, Đảng uỷ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Chương trình về nguồn ý nghĩa tại Khu di tích lịch sử K9 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội). Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026).
Hội Mã số Mã vạch Việt Nam: biến những sọc đen trắng đơn thuần trở thành tấm “hộ chiếu”
Sáng 31/1, tại Hà Nội, Hội Mã số Mã vạch Việt Nam đã long trọng tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động năm 2025 và kỷ niệm chặng đường 25 năm hình thành, phát triển (1999 - 2024). Sự kiện có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá toàn diện những thành tựu trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số, đồng thời xác định các nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn 2026 – 2030 của Hội.
Trí thức trẻ - Lực lượng tiên phong, mang khát vọng đổi mới
Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030 tầm nhìn 2045, Đảng và Nhà nước đã xác định KHCN,ĐMST&CĐS là một trong ba đột phá chiến lược. Từ Văn kiện Đại hội XIV đến các nghị quyết trụ cột như Nghị quyết 57, Nghị quyết 68 và Luật KH,CN&ĐMST năm 2025, con người, đặc biệt là đội ngũ trí thức KH&CN trẻ được đặt ở vị trí trung tâm của tiến trình phát triển.
Hội Tự động hóa Việt Nam khẳng định vai trò kết nối, nâng cao năng lực công nghệ và hội nhập cho doanh nghiệp Việt
Hội Tự động hóa Việt Nam vừa tổ chức thành công Hội thảo Cơ hội và Chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp KH&CN, nhằm giúp doanh nghiệp hội viên hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ nhận thức đúng về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng lực công nghệ, định hướng trở thành doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển bền vững.
Giải pháp để hiện thực hóa Nghị quyết 57
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57, Việt Nam đặt mục tiêu gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, nhân lực, hạ tầng để bứt phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, dịch vụ công trực tuyến được coi là động lực quan trọng, vừa nâng cao hiệu quả quản trị, vừa đưa chính sách đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp.
Ban Thường vụ VAA thông qua các chương trình đẩy mạnh hoạt động năm 2026
Cuộc họp Ban Thường vụ mở rộng lần thứ I năm 2026 của Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) diễn ra sáng 23/1 đã thống nhất phân công nhiệm vụ Ban Lãnh đạo khóa VI, đồng thời xác định các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, trong đó nổi bật là tổ chức VCCA 2026, AT Expo 2026 và mở rộng hoạt động kết nối khoa học - công nghệ, giao thương quốc tế.