Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 21/07/2010 23:23 (GMT+7)

Biến đổi khí hậu và những thách thức trong phát triển bền vững vùng ven biển

Thách thức trong ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững

Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo, đời sống người dân còn thấp. Vì vậy, việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững song song với việc bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên vốn đã là một thách thức lớn. Thách thức này sẽ tăng lên gấp bội, đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn khi phải ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH.

Dải ven biển: Nghèo đói và thiên tai

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, trong đó có dải ven biển (DVB), tài nguyên nước ngọt và đa dạng sinh học (nhất là ĐDSH nông nghiệp) chịu ảnh hưởng nhiều nhất.

Đối với nước ta, mực nước biển dâng sẽ đe doạ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn, các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước - nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư lâu đời (hiện có tỷ lệ đói nghèo cao), vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh quyển. Nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó trên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sông Hồng-Thái Bình có độ cao dưới 2,5m so với mặt biển. Vì vậy ở đây, hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô. Nếu nhiệt độ tăng 2 0C, mực nước biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của 23% dân số (khoảng 17 triệu người, chủ yếu ở hai đồng bằng). Mặn xâm nhập và tác động tới khoảng 2.200.000 - 2.500.000 ha. Sẽ làm giảm khả năng thoát nước, làm ngập lụt 400 km chiều dài dọc theo sông Mê kông và 200 km chiều dài dọc theo sông Hồng. Nhiều thành phố, thị xã, như cảng Hải Phòng, cảng Vũng Tàu và nhiều nơi thuộc các tỉnh ven biển sẽ bị ngập. Riêng với đồng bằng sông Cửu Long, nếu mực nước biển dâng như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 50% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn nặng, mùa màng bị thiệt hại nghiêm trọng do lũ lụt và úng. Nếu mực nước biển dâng 1m, mà không có các hoạt động ứng phó, phần lớn diện tích ĐBSCL sẽ hoàn toàn bị ngập nhiều thời gian dài trong năm, và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD (Van Urk and Misdrop, 1996; Pilgrim, 2007).

Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng còn dẫn đến các hậu quả: Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt; Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến hệ sinh thái của một số loài thủy sản; khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy. Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thủy sản xấu đi.

Nhiệt độ trung bình tăng dẫn đến một số hậu quả: gây

ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinhsống của sinh vật; Một số loài di chuyển lên phía Bắc hoặc xuống sâu hơn làm thay đổi cơ cấu phân bố thủy sinh vật theo chiều sâu; Quá trình quang hóa và phân hủy các chất hữu cơ nhanh hơn, ảnh hưởngđến nguồn thức ăn của sinh vật. Các sinh vật tiêu tốn nhiều năng lượng hơn cho quá trình hô hấp cũng như các hoạt động sống khác làm giảm năng suất và chất lượng thuỷ sản; Suy thoái và phá huỷ cácrạn san hô, thay đổi các quá trình sinh lý, sinh hóa diễn ra trong mối quan hệ cộng sinh giữa san hô và tảo; Nhiệt độ tăng làm cho nguồn thuỷ hải sản bị phân tán. Các loài cá cận nhiệt đới có giá trịkinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn. Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt. Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị huỷ diệt, làm giảm mạnh động vật nổi, dođó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên. Nhiệt độ tăng làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm, làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, làm tăng khảnăng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng - véc tơ truyền bệnh, do đó làm tăng số lượng người bị bệnhtruyền nhiễm, nhất là các bệnh truyền qua véctơ và nước…

BĐKH còn làm tăng tần suất, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô, nóng, lũ, ngập úng hay hạn hán, rét hại, dịch bệnh, sâu bệnh, sẽ có tác động phức tạp tới các mặt khác nhau của đời sống xã hội, dẫn tới các thảm họa giết người, ốm đau, thương tích, suy dinh dưỡng và các bệnh dịch mới, nhất là các bệnh do véctơ truyền có tỷ lệ tử vong cao.

Để phát triển bền vững và ứng phó với BĐKH

PTBV và ứng phó với BĐKH đều là các vấn đề mang tính liên ngành cao, vì vậy phương pháp tiếp cận tích hợp, lồng ghép phải được quán triệt trong mọi hoạt động, từ hoạch định chính sách tới tổ chức - quản lý thực hiện, kiểm tra giám sát đánh giá và kiện toàn chính sách. Mặt khác, đây là những vấn đề mang tính toàn cầu, vì vậy, hợp tác và hội nhập kinh tế phải là một nguyên tắc chủ đạo theo phương châm: Suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương.

DVB vừa là vùng sẽ chịu hậu quả nghiêm trọng nhất của BĐKH, vừa là vùng có sự đầu tư phát triển của nhiều bộ, ngành và quốc tế. Quản lý tổng hợp DVB đã trở thành cách tiếp cận chủ đạo trong quản lý tài nguyên và môi trường nói riêng. Để phát triển bền vững DVB nói chung, và từ nay về sau, cách tiếp cận này sẽ phải lồng ghép với một yếu tố quan trọng là BĐKH.

Để thành công, nhất là ở những nước đang phát triển như Việt Nam phải có sự quyết tâm và đồng thuận cao, trước hết trong Đảng, trong toàn hệ thống chính trị, trong hệ thống chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân. Công tác mang tính chiến lược lâu dài là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực cho khoa học - công nghệ để mọi hoạt động đều phải có cơ sở khoa học chắc chắn.

Cách tiếp cận tích hợp và liên ngành, phải được coi là chủ đạo và cần phải được quán triệt trong PTBV và ứng phó với BĐKH, từ khâu hoạch định chiến lược, chính sách, đến khâu tổ chức, quản lý triển khai, đến sự phối hợp giữa các lĩnh vực chuyên môn, đến giám sát, kiểm tra đánh giá, thanh tra.

Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) - công cụ để thực hiện các hoạt động lồng ghép (trước hết là lồng ghép các yếu tố môi trường và BĐKH) trong các quy hoạch, kế hoạch, chương trình… phát triển, cần được nhanh chóng hoàn thiện để có các hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho từng lĩnh vực, cho từng vùng, từng loại đối tượng.

Nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng, của người dân cần phải được làm thường xuyên, liên tục và phải được coi là yếu tố quyết định, đảm bảo cho sự bền vững của mọi thành công.

Cần phải có một chiến lược quốc gia quy hoạch lại các vùng. Với DVB, DVB là vùng nóng, rất nhạy cảm về nhiều mặt và chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH, vì vậy cần phải được sự quan tâm đặc biệt. Theo đó, Quản lý tổng hợp và thích ứng với BĐKH là một yêu cầu mới cho phát triển bền vững DVB. Trong xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cần có sự chỉ đạo thống nhất, nhưng phải dựa trên các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng (6 vùng), từng khu vực để đánh giá rủi ro, tác động và đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp theo cách tiếp cận dựa vào cộng đồng. Những khu vực có tiềm năng bị tác động cao cần được cân nhắc khi đầu tư phát triển, và cần có các tổ chức quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực lồng ghép BĐKH vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.