Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 23/08/2011 21:34 (GMT+7)

Biến đổi khí hậu gắn liền với quản lý chất thải rắn

Theo dự báo tổng số chất thải rắn phát sinh trong năm 2015 sẽ có khoảng 43.6 triệu tấn (9.6 triệu tấn chất thải công nghiệp, 1.8 triệu tấn từ các làng nghề); năm 2020 khoảng 67.6 triệu tấn (20.8 triệu tấn chất thải công nghiệp, 2.5 triệu tấn từ làng nghề) và trong năm 2025 khoảng 91 triệu tấn, trong đó 27.8 triệu tấn chất thải công nghiệp và 3.6 triệu tấn từ các làng nghề.

Để đạt được các chỉ tiêu về tái chế, tái sử dụng chất thải theo Quy hoạch tổng thể về quản lý chất thải rắn (QLCTR) đến 2025 và tầm nhìn đến 2050 thì việc quản lý chất thải rắn, đặc biệt là tại các khu đô thị cần phải được đầu tư cả về nguồn vốn, nhân vật lực và đặc biệt là công nghệ do tốc độ tăng trưởng kinh tế, dân số, đô thị hóa, mức sống tăng, tăng tỷ lệ thu gom chất thải, đặc biệt là trong các khu vực trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Với tỷ lệ phát sinh chất thải sinh hoạt tại các đô thị lớn 0.7-1kg/đầu người/năm và tỷ lệ gia tăng rác sinh hoạt tại các thành phố lớn là từ 6.7-8.5%/năm với phương pháp chôn lấp rác hợp vệ sinh vẫn là giải pháp mang tính chủ lực đang gây áp lực lớn cho các bãi chôn lấp rác hiện cả về phương diện mở rộng tăng công suất tiếp nhận, chi phí kèm theo. Một số đóng góp của QLCTR đến giảm khí thải nhà kính và chống biến đổi khí hậu được thể hiện ở các quan điểm dưới đây sau khi Hiệp hội Môi trường đô thị và Khu công nghiệp có chuyến khảo sát QLCTR tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu vào tháng 6 và tháng 8/2010 cũng như tham khảo các kinh nghiệm của các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc.

·Ngân sách nhà nước tại các tỉnh thành cần hỗ trợ cho việc thiết kế hay chuyển đổi bãi chôn lấp rác theo hướng khu xử lý chất thải rắn/bãi chôn lấp sinh thái, ít phát thải định hướng QLCTR và tăng trưởng xanh, carbon thấp thông qua việc phân luồng tổ chức tiếp nhận rác, áp dụng tái chế hữu cơ, thu hồi và tận dụng khí gas bãi chôn lấp, tái sử dụng nguồn chất thải hữu cơ thành phân compost hoặc chuyển sinh khối biogas phát điện và các biện pháp giảm thiểu lượng thải chôn lấp thông qua đầu tư cho các dự án rác – nguồn lợi (rác biogas-phát điện, rác – RDF-sử dụng RDF), rác – sản phẩm tái chế. Ảnh hưởng của việc phát tán khí gas bãi chôn lấp rác đến phát sinh khí nhà kính hiện tại là rất lớn và thường đứng thứ hai sau ngành năng lượng ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, nếu các bãi chôn lấp trong toàn quốc có lắp đặt hệ thu khí gas bãi chôn lấp và đốt khí metan cũng góp phần giảm (0.25t CO 2/tấn rác) hay đến 7.8 triệu tấn CO 2/năm và nếu tái sử dụng thành nguồn năng lượng thay thế năng lượng hóa thạch thì con số này sẽ là một đóng góp đáng kể.

Những mô hình bãi chôn lấp thu hồi và sử dụng khí gas như Sudokwon – Seoul với 3500 tấn rác sinh hoạt/ngày, thu hồi khí gas cho trạm phát điện 50MW, chuyển nhượng CER là 115 triệu đô la trong 10 năm, giảm chi phí xử lý nước rỉ rác là mô hình cần được áp dụng.

·Đa dạng hóa công nghệ tái chế và đầu tư tài chính cho nghiên cứu triển khai để đáp ứng nguồn rác tái chế được trong rác thải sinh hoạt và công nghiệp, đặc biệt đối với rác hữu cơ, vật liệu plastic, giấy và các vật chất cháy được.

Tái sử dụng chất thải hữu cơ cần được hỗ trợ phát triển theo hình thức dự án nghiên cứu triển khai tái chế hiệu quả cao ứng dụng ngay tại các khu xử lý – chôn lấp. Các mô hình thu hồi sinh khối biomas từ rác thực phẩm, thu hồi methanol từ rác thải sinh hoạt, thực phẩm, đồ ăn thừa (mô hình Kyoto – Nhật Bản, 3 tấn rác hữu cơ/ngày, thu 5MW điện), thu methanol, tạo nhiên liệu sinh học từ dầu ăn thải loại) và ứng dụng nhiều cách thức xử lý nguồn thải hữu cơ. Tăng cường các loại hình tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế được đánh giá là góp phần quan trọng nhất để giảm khí thải nhà kính với giảm tải lượng 0.68t CO 2/tấn rác. Đầu tư, cơ chế chính sách cho tái chế, tái sử dụng rác đóng vai trò then chốt và là hành động thiết thực cho giảm khí thải nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu.

·Trước mắt, cần tạo một dòng ngân sách chuyên biệt để hỗ trợ việc tái chế nguồn thải như Quỹ tái chế, Quỹ chống biến đổi khí hậu tại các tỉnh thành, đặc biệt cho việc sản xuất phân bón compost. Hiện mới chỉ có 15% lượng rác sinh hoạt trong tổng lượng chất thải phát sinh được sản xuất thành phân compost. Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế tại các nhà máy sản xuất phân compost, việc tiêu thụ thực tế của phân hữu cơ là không tốt như mong đợi vì nhiều lý do gồm cả chất lượng, giá cả, khoảng cách xa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, việc mở rộng dịch vụ và chi phí xử lý rác chưa được ngân sách chi trả bù đắp được các chi phí sản xuất. Mặc dù sản xuất phân compost có tiềm năng nâng cao sản lượng nhưng hiện tại các nhà máy này luôn hoạt động dưới công suất thiết kế. Chất lượng phân bón compost chưa thực sự ổn định do việc thực hiện phân loại rác tại nguồn chưa thực hiện tốt, chưa phổ biến rộng rãi. Bên cạnh đó, việc tiêu thụ trở nên khó cạnh tranh do chưa có chính sách hỗ trợ chi phí sản xuất và trợ cấp, mặc dù tái chế chất thải thành phân compost là mô hình có thể đóng góp giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính phát sinh tính theo 1 tấn rác sinh hoạt (đến 0.5t CO2/1 tấn rác) đóng góp này cần được hỗ trợ xứng đáng.

·Tăng cường đầu tư hạ tầng, tổ chức tốt quản lý theo đầu mối việc tái chế các loại vật liệu (nhựa, ắc quy, chất thải điện tử…) đảm bảo các yêu cầu, quy định môi trường. Khắc phục và tổ chức lại các cơ sở tái chế không chính thức, lạc hậu tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận. Tăng cường quản lý việc xử lý bùn thải, việc xử lý các chất cặn bã thải từ cửa hệ thống xử lý nước thải, hóa chất, cặn thải từ các làng nghề thủ công, công nghiệp và kể cả chất thải nguy hại từ hộ gia đình. Tăng cường các hệ xử lý chất thải công nghiệp nguy hại, rác y tế nguy hại, theo dõi và đánh giá hoạt động xử lý chất thải để giảm phát thải và chất độc hại.

·Lập các chương trình, kế hoạch hành động và khung pháp lý thực thi tốt là yếu tố quan trọng để cải thiện QLCTR. Bên cạnh đó, cần mạnh dạn thăm quan và học hỏi kinh nghiệm thành công của các nước, áp dụng mô hình “Tăng trưởng xanh và carbon thấp” cho QLCTR (Mô hình SCL Seoul – Hàn Quốc và Cộng đồng kinh tế châu Âu) gắn một cách thực tiễn QLCTR với tăng trưởng xanh và mục tiêu giảm, chống biến đổi khí hậu. Cung cấp, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội các thành phố của Việt Nam , gắn giảm phát chất thải theo đầu người, tăng tái chế.

·Tăng cường giám sát việc thực hiện chiến lược quốc gia về Quản lý tổng thể CTR, tăng đầu tư để xây dựng năng lực QLCTR hướng tới phát triển xanh và carbon thấp. Cải thiện phí QLCTR và chi phí xử lý rác và đặt trong các quy định thích hợp.

·Cần thiết lập các cơ chế chính sách đầu tư công nghệ quản lý, xử lý CTR và chuyển giao công nghệ, bảo hộ quyền tác giả. Dựa vào các đặc tính của thành phần chất thải, địa điểm, triển vọng sử dụng, kinh tế, các công nghệ thích hợp cần có các hỗ trợ mạnh mẽ như thiết lập các thành phố sinh thái với quan điểm tuần hoàn vật chất, tổng lượng sinh khối và chất thải hữu cơ được trao đổi và chuyển thành điện/nhiệt… Ethanol và nhiên liệu diesel sinh học. Phân bón/ thức ăn sản xuất, plastic hoặc vật liệu khác có các mô hình tái chế hiệu quả, các chủ nguồn thải được tham gia vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lợi từ rác và nguồn tài nguyên sinh khối chất thải. Áp dụng các mô hình về công nghệ khí hóa, nhiệt hóa chảy và đốt cháy hoàn toàn hiệu quả cao, an toàn.

·Tăng cường đầu tư trang thiết bị phân tích, xử lý, kiến thức và biện pháp ứng phó với các chất độc hại, đặc biệt cho công nghệ đốt, công nghệ xử lý và tái chế thủy ngân/amiăng/cadmium, thu hồi tái chế chất thải pin, bóng đèn, huỳnh quang, vật liệu cách ly cũng như giảm bớt việc sử dụng các kim loại độc hại trong sản xuất các túi nhựa. Đồng thời, cần thực hiện các biện pháp để giảm số lượng và mức độ ô nhiễm POPs, phát triển các chính sách đối với quản lý chất thải nguy hại.

·Cải thiện nguồn tài chính cho QLCTR bằng nhiều nguồn tài trợ, hỗ trợ tài chính từ trung ương đến địa phương, từ nguồn lực quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng mới các công nghệ tái chế, nhà máy xử lý để đạt được mục tiêu trong chiến lược QLCTR đến năm 2025, hạn chế sử dụng bãi chôn lấp rác và giảm phát thải khí nhà kính.

·Thúc đẩy sự tham gia của công dân và các bên liên quan. Người dân, người phát thải tham gia phân loại rác và thể hiện trách nhiệm của mình với phát thải ra môi trường, có trách nhiệm đóng góp các phí và các sáng kiến, hành động cho QLCTR..

Việt Nam đã thông qua khung văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp chất thải rắn hướng tới các hoạt động tái chế, giảm thiểu chôn lấp. Tuy vậy, việc tái chế chất thải vẫn còn nhiều rào cản, bất cập. Nhưng nhu cầu về nâng cao năng lực trong Quản lý chất thải rắn, công nghệ và thiết bị tái chế cũng như việc tạo lập ngân sách đầu tư tài chính xây dựng, củng cố, hiện đại hóa các khu liên hợp xử lý chất thải trọng tâm vào tái chế có kiểm soát ô nhiễm các chất độc hại cần phải được tập trung mọi nguồn lực trong nước và quốc tế để thực hiện trong thời gian tới với mục tiêu giảm phát khí nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: