Bệnh phát sáng gây hại tôm nuôi
Trong ao nuôi, tôm bị bệnh thường bơi lội không định hướng, một số con dạt bờ. Ao nuôi xảy ra dịch bệnh phát sáng có hiện tượng tôm chết ở đáy ao và số lượng con chết nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ cảm nhiễm của bệnh. Tôm nhiễm bệnh, vỏ và thân có màu bẩn, cơ có màu đục, gan teo, khả năng bắt mồi giảm, ruột rỗng, tôm phản xạ chậm. Hiện tượng phát sáng dễ nhận biết khi quan sát tôm trong bóng tối. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố như nhiệt độ, độ mặn, pH, sự tích tụ các chất hữu cơ sẽ ảnh hưởng đến sự sinh sản, lây lan và mức độ cảm nhiễm của loại vi khuẩn này.
Vi khuẩn Vibrio harveyi gây bệnh phát sáng trên tôm sú thuộc nhóm Gam âm (G-) sống dưới nước và phân chia tế bào rất nhanh ở độ mặn từ 0 đến 40 %o; vi khuẩn phát triển mạnh khi nhiệt độ tăng cao và trong môi trường nước có hàm lượng chất hữu cơ cao, ôxy thấp. Khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, chúng tấn công vào tế bào gan, làm cho gan bị viêm, việc tiêu hoá của tôm không bình thường, tôm suy yếu và chết dần.
Để phòng trị bệnh phát sáng trên tôm sú cần áp dụng các biện pháp sau:
Điều chỉnh độ mặn:
Vi khuẩn Vibrio harveyi phát triển mạnh ở môi trường có độ mặn 20 – 30% o, nếu độ mặn giảm thấp còn 5 – 7 % o, mật độ vi khuẩn Vibrio harveyi giảm rõ rệt. Hạ độ mặn là biện pháp ức chế khả năng phát triển vi khuẩn phát sáng.
Nhiệt độ nước:
Nhiệt độ nước tăng cao là điều kiện tốt cho vi khuẩn Vibrio harveyi phát triển, nhất là vào mùa hè. Để hạn chế khả năng tăng nhiệt cần duy trì mực nước trong ao nuôi đạt độ sâu 1,2 – 1,5 m, đồng thời gây màu nước giữ độ trong 30 – 40 cm. Cần làm mái nhà che nắng để hạn chế sự tăng nhiệt vào buổi trưa.
Giảm chất hữu cơ có trong nước:
Phương pháp này dễ thực hiện, lại hiệu quả. Các chất hữu cơ có trong môi trường nước là do xác các phiêu sinh thực vật chết lặng tụ, lượng thức ăn dư thừa, các chất thải của tôm. Vì vậy trước mỗi vụ nuôi phải cải tạo ao thật kỹ, vét sạch bùn đáy, bón vôi, phơi ao, khoáng hoá nền đáy tiêu diệt mầm bệnh. Trong khi nuôi cần quản lý tốt lượng thức ăn hàng ngày, thường xuyên kiểm tra sàng ăn để đánh giá khả năng bắt mồi, kịp điều chỉnh thức ăn hợp lý, không để tào tàn đồng loạt làm mất màu nước, tăng lượng hữu cơ. Phát triển nhóm tảo lục (chlorellla) cũng có tác dụng khống chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio harveyi. Ngoài ra, lợi ích của phiêu sinh thực vật trong quá trình hấp thụ ánh sáng mặt trời quang hợp sẽ tạo ôxy cho tôm, hấp thu CO 2, làm môi trường nước được cải thiện tốt hơn.
Sử dụng hoá chất diệt vi khuẩn (Xử lý nước trước khi thả tôm):
Những hoá chất có thể sử dụng để diệt vi khuẩn hoặc làm giảm sức hoạt động của vi khuẩn phát sáng trong nước như: chlorine 30 g/m 3, BKC 1 – 2 g/m 3, thuốc tím 4 – 5 g/m 3. Tuy nhiên, khi hoá chất hết tác dụng thì những ổ vi khuẩn phát sáng còn sót lại sẽ phát triển nhanh về số lượng. Do đó việc dùng hoá chất phải duy trì thường xuyên mới có kết quả.
Sử dụng kháng sinh:
Việc sử dụng kháng sinh trị bệnh phát sáng chỉ có kết quả khi kiểm tra phát hiện sớm và xử lý thuốc kịp thời, đúng liều lượng. Vì ở giai đoạn này tôm ở ao nuôi còn ăn thức ăn, khả năng đưa thuốc vào cơ thể có thể thực hiện được. Các loại kháng sinh được dùng:
- Oxytetracyline + Bactrim (tỷ kệ 1:1), nồng độ 1 – 3 ppm (g/m 3).
- Erytromycine + Riafamycine (tỷ lệ 5:3), nồng độ 1 – 2 ppm (g/m 3).
- Erytromycine + Bactrim (tỷ lệ 1:1), nồng độ 1 – 3 ppm (g/m 3).
Đối với ao nuôi tôm thịt, việc sử dụng kháng sinh trị bệnh phát sáng sẽ gặp nhiều khó khăn và tốn kém do số lượng thuốc sử dụng cho cả ao và duy trì 5 – 7 ngày.
Để phòng trị bệnh phát sáng tôm, cần thực hiện tốt các biện pháp từ khâu chọn giống, cải tạo ao, loại bỏ hết các chất hữu cơ vào đầu vụ; nuôi tôm trongg độ mặn thấp, giữ nước có màu xanh vỏ đậu, hạn chế khả năng tăng cao nhiệt độ; không cho ăn dư thừa, tăng cường sức khoẻ tôm nuôi bằng thức ăn giàu dinh dưỡng và vitamin.








