Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 22/07/2011 19:04 (GMT+7)

Bảo vệ môi trường nâng cao chất lượng sống cho nhân dân vùng biển đảo

Lợi ích kinh tế to lớn của vùng biển đảo và ven biển

Nước ta có bờ biển dài hơn 3.260km, với đặc điểm có nhiều vùng đất ngập nước và nhiều kiểu sinh thái biển, kể cả khoảng 100 hệ thống cửa sông lớn nhỏ, cùng với rừng ngập mặn và bãi bùn (khoảng 290.000 ha), những đầm lầy ngập nước theo mùa, những đụn cát ven biển, những đầm phá nước mặn và nước lợ (khoảng 100.000 ha) và nhiều rạn san hô gần bờ, thảm cỏ biển với khoảng 10.000 đảo lớn nhỏ. Đây cũng là nơi dân cư tập trung đông, nguồn nhân lực dồi dào, với số dân khoảng 29,2 triệu người, chiếm 34,6% dân số cả nước và số người trong độ tuổi lao động chiếm 35,5% lao động cả nước.

Biển đảo và ven biển đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp, như nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, đồng thời đem lại lợi ích gián tiếp cho con người. Các vùng đầm lầy có rừng ngập mặn và các cửa sông có ý nghĩa sinh thái đặc biệt, là chỗ đẻ trứng, nuôi ấu trùng, nơi kiếm ăn cho nhiều loài có giá trị kinh tế như cá, ốc, tôm, cua và nhiều loài hai mảnh vỏ… và là nơi cung cấp thực phẩm quan trọng cho người nghèo. Các đầm phá ven bờ là hệ sinh thái có sức sinh sản cao do ở dây có hàm lượng chất dinh dưỡng lớn hơn vùng biển, ngay cả trong mùa khô. Ở đây có thể khai thác nhiều loài động vật, thực vật, nhất là cá, tôm, cua, ốc, hàu và rong câu… Những rạn san hô là nơi quy tụ nhiều chất dinh dưỡng, nhiều loài sinh vật biển và là nơi ẩn nấp và sinh sản của nhiều loài hải sản quan trọng. Các đụn cát, rừng ngập mặn và các rạn san hô cũng tạo nên vùng đệm, ngăn cản tác hại của lũ lụt, xói mòn đất, sóng bão.

Tài nguyên vùng biển đảo và ven biển phong phú, đa dạng là nguồn thực phẩm và là nguồn thu nhập quan trọng cho phần lớn nhân dân vùng này Trữ lượng các loài cá biển khoảng 3 triệu tấn; trữ lượng tôm he và tôm vỗ khoảng 57.330 tấn với khả năng khai thác 20.000 tấn. Các loài cua, ghẹ, ngao đá, nghêu, sò huyết có khả năng khai thác lớn. Ngoài ra, còn có các loài đặc sản có giá trị như tu hài, vẹm xanh, điệp, hàu, bào ngư, ốc hương, tổ yến cũng là nguồn lợi lớn từ biển đảo và ven biển nước ta. Hàng năm lượng cá đánh bắt được lên tới hàng triệu tấn, trong đó phần quan trọng dành cho xuất khẩu. Khoảng 80-90% sản lượng cá biển đánh bắt được là từ vừng nước nông ven bờ. Nghề biển đã cung cấp khoảng 30% lượng đạm động vật cho nhân dân vùng biển đảo và ven biển.

Gần đây, kinh tế biển nước ta đã có bước phát triển, nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo, như mở rộng hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp nước ngọt, xây dựng thêm trường học, bệnh xá… Tuy vậy, kết cấu hạ tầng các vùng biển đảo và ven biển vẫn còn yếu kém và lạc hậu. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển nước ta đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế "thuần biển" đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải, du lịch, các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng tàu, chế biến dầu khí, chế biến hải sản, thông tin liên lạc bước đầu phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ bé. Hệ thống cảng biển còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Tuy nhiên, chúng ta đang nỗ lực khai thác, bảo vệ và phát triển lợi ích kinh tế từ vùng biển đảo và ven biển, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng sống của nhân dân vùng này và nhân dân cả nước.

Cấp báo ô nhiễm môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên, sinh thái

Những hệ sinh thái biển đảo và ven biển nước ta đang nhanh chóng bị xuống cấp hoặc bị biến đổi. Mặc dù trong chiến tranh hàng loạt những khu rừng ngập mặn ở phái Nam đã bị tàn phá, đã được nhân dân vùng biển đảo trồng lại, nhưng áp lực kinh tế hiện thời đã biến rừng ngập mặn thành nơi cày cấy hoặc nuôi trồng thủy hải sản theo hướng phát triển không bền vững. Nước ta lại là một trong năm nước chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao, trước hết là vùng biển đảo và ven biển. Các hệ sinh thái ven biển, các giá trị dịch vụ, người dân ven biển và trên các đảo là những đối tượng dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất.

Nghề đánh bắt cá ven bờ đang khai thác quá mức, các rạn san hô bị xuống cấp do những cách đánh bắt có tính hủy diệt, và bị cạy lên để nung vôi. Phần lớn dân cư sinh sống ở vùng gần ven biển và việc sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp đều tập trung ở vùng này như: Châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, nên tình trạng ô nhiễm công nghiệp và đô thị cùng nhiều hình thức phát triển khác trong vùng lưu vực sông là mối đe dọa nghiêm trọng đối với tài nguyên vùng biển đảo và ven biển.

Trong những năm tới, dự kiến mức tăng trưởng trong hoạt động kinh tế, nhất là việc đẩy mạnh nông nghiệp, phát triển tài nguyên nước và công nghiệp, xây dựng bến cảng, khai thác và vận chuyển dầu sẽ tăng thêm sức ép lên vùng biển đảo, ven biển và tài nguyên biển. Ngành du lịch sẽ nhanh chóng được mở rộng ở vùng biển đảo sẽ gây thêm sức ép lên vùng này, nhất là các bờ biển quý giá như vịnh Hạ Long, Vũng Tàu và dài bờ biển miền Trung.

Các hoạt động trên biển cũng tiềm tàng những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vùng biển đảo. Đầu tiên là việc phá rừng ngập mặn một cách bừa bãi để nuôi trồng thủy sản, phá vỡ hệ cân bằng sinh thái, làm mất đi nhiều loài hải sản quý hiếm; việc đánh bắt cá bằng lưới quét mắt nhỏ, bằng chất nổ, thuốc độc…. đã tiêu diệt hàng chục loài sinh vật biển, theo đánh giá của các nhà khoa học, thì phải mất hàng chục năm mới khôi phục lại được. Việc quai đê lấn biển ở một số vùng cửa sông, ven bờ cũng làm thay đổi dòng chảy và có nguy cơ xói lở bờ ở các vùng khác. Tình trạng ngập lụt ở các vùng ven biển do chặt phá rừng bừa bãi để khai thác gỗ, đốt rừng đầu nguồn… đã làm đảo lộn các hệ sinh thái, dẫn đến việc hủy diệt các dải san hô, nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh.

Hiện nay, việc khai thác, thăm dò dầu khí ở nước ta đang trên đà phát triển. Bên cạnh sự phát triển đó là những rủi ro đối với kinh tế và đời sống người dân ven biển, trong đó nguy cơ dầu tràn là mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng. Dầu tràn từ biển trôi vào bờ, trước mắt thiệt hại cho việc đánh bắt cá, nuôi trồng hải sản, làm muối, du lịch… sau đó ảnh hưởng lâu dài, nghiêm trọng đến sự phát triển sinh vật ven bờ và sức khỏe con người.

Ô nhiễm dầu có thể do nhiều nguyên nhân và chủ quan, như giao thông vận tải và vận chuyển dầu, khai thác thăm dò dầu khí ngoài trời, xử lý và phân phối kinh doanh dầu, đánh bắt cá, du lịch hoặc các hoạt động có liên quan đến sử dụng dầu trong các lưu vực. Vấn đề nguy hiểm đặt ra là dầu đã loang vào bờ biển nước ta. Quan sát bằng mắt thường, chúng ta đã thấy được các mảng, vệt, váng dầu, các tảng cục dầu ngậm nước trôi nổi ở vùng nước sát bờ. Có thể đó là các tảng, cục dầu ngậm nước đã bị phong hóa ở các mức độ khác nhau nằm trên bờ bãi. Đối với ô nhiễm dầu không thấy được bằng mắt thường, thường là đa dạng hòa tan trong nước hoặc lắng đọng cùng trầm tích, hàm lượng đã vượt quá giới hạn cho phép trong tiêu chuẩn nước biển ven bờ TCVN 5943-1995. Thời gian qua, nhiều mảng dầu, vón dầu không rõ chủng loại và xuất xứ đã được phát hiện ở nhiều nơi dọc bờ biển nước ta như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Trà Vinh, Bến Tre… Khối lượng dầu tràn thường khá lớn, vết dầu rộng tràn vào bờ gấp 10-20 lần mức cho phép.

Đối với các cảng biển, hàm lượng dầu cao hơn tiêu chuẩn cho phép là do sự rò rỉ thường xuyên và không tránh được của tàu thuyền cùng các dịch vụ nhập, xuất, tiếp dầu. Việc thải các chất lỏng có chứa dầu, dầu cặn, sự khuếch tán của lớp bùn cát đáy chứa dầu làm ô nhiễm. Đối với các vùng cửa sông, phần lớn là do các hoạt động trên đất liền hoặc từ các cảng sâu hơn theo dòng nước sông đưa ra làm cho các cửa sông đều có hàm lượng dầu trong nước cao hơn tiêu chẩn cho phép, như ở các sông Cấm, sông Hàn, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Thu Bồn, sông Đồng Nai và Định An… Ở các vùng biển ven bờ, dầu thường theo sông thải ra rồi theo hệ thống dòng chảy sát bờ đưa đi xa hơn. Ví dụ, như vùng biển rộng từ Đồ Sơn đến gần cửa Ba Lạt, có hàm lượng dầu rất cao, do dòng nước từ cảng cửa sông Hải Phòng cùng các sông Hồng và sông Thái Bình đổ ra. Sự ô nhiễm dầu ở các vùng gần các tuyến giao thông biển nhộn nhịp, hoặc gần nơi thăm dò khai thác dầu khí cũng rất nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường biển sẽ làm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên, sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân vùng biển đảo và ven biển.

Những giải pháp cấp thiết, cơ bản, lâu dài

Sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước với tốc độ cao, tất yếu sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, tài nguyên vùng biển đảo và ven biển. Tuy nhiên, chúng ta cần phải có những biện pháp cấp bách, cơ bản, lâu dài nhằm hạn chế mức thấp nhất sự thiệt hại do ô nhiễm gây ra đối với môi trường và tài nguyên vùng biển đảo và ven biển.

Nước ta đã có Luật BVMT, nhưng việc đưa luật vào đời sống xã hôi, để trở thành ý thức chấp hành trong mỗi người dân vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay, hiểu biết của người dân về những hoạt động có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường như: Đốt, phá rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, xả rác bừa bãi ra sông hồ, bờ biển,…. còn rất hạn chế. Cần phải có những biện pháp tuyên truyền sâu rộng, có hướng dẫn đầy đủ đến người dân để họ hiểu được sự cần thiết phải BVMT nói chung và môi trường biển, đảo nói riêng. Cần kiểm soát chặt chẽ các bến cảng biển và khuyến khích phát triển đánh bắt hải sản xa bờ. Đó chính là yếu tố tiên quyết quyết định sự phát triển nền kinh tế biển, góp phần làm nên sự phồn thịnh của một quốc gia.

Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển đảo và ven biển cũng cần có sự hợp tác của các ngành, các cấp và sự đầu tư đúng mức của Nhà nước cho việc phát triển công nghệ tiên tiến như: Tin học, vật lý học, viễn thám để kiểm soát được mức độ ô nhiễm môi trường của các vùng này và có những giải pháp kịp thời điều chỉnh, ứng phó hiệu quả với những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Có chính sách phát triển các chuyên ngành môi trường biển đảo và ven biển ở các trường đại học, các viện nghiên cứu,… để xây dựng đội ngũ lao động chất lượng cao với đầy đủ các thiết bị cần thiết trong việc giải quyết vấn đề môi trường, dân sinh vùng biển đảo và ven biển.

Hợp tác quốc tế trong quản lý và BVMT biển đảo và ven biển có ý nghĩa rất quan trọng. Xuất phát từ việc môi trường biển đảo là vấn đề chung của các quốc gia, chúng ta cần phải phối hợp chặt chẽ với các nước có chung vùng biển và các nước có công nghệ cao áp dụng hữu hiệu vào việc BVMT biển đảo như: Đức, Nhật Bản, Mỹ… Trong thời gian qua, sự hợp tác này đã mang lại những thành công trong việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao phương pháp luận về quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho mục đích phát triển bền vững vùng biển đảo và ven biển. Trong khuôn khổ các dự án, chúng ta đã xây dựng được kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại và các phần mềm xử lý số liệu bằng công nghệ GIS như Arc INFO, Arc VIEW, hướng tới việc quản lý và xử lý các số liệu, tổng hợp, đánh giá tình hình ô nhiễm dải ven biển để kịp thời thông báo và khuyến cáo về những tác hại ảnh hưởng đến môi trường

Vấn đề quan trọng đặt ra là, phải phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả và bền vững. Muốn vậy, phải xây dựng được một nền khoa học công nghệ biển hiện đại, có một phương thức quản lý biển tổng hợp, bảo đảm được an ninh sinh thái và an ninh xã hội vùng biển đảo và ven biển. Có kế hoạch phát triển kinh tế biển đảo đi liền với bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái. Xây dựng, phát triển thương hiệu biển Việt Nam trong các lĩnh vực và vùng địa lý, trong đó có cảng nước sâu và khu kinh tế ven biển theo hướng kinh tế xanh.

Đẩy mạnh và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, phát huy những kinh nghiệm tốt, giải pháp hay trong công tác BVMT, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống cho người dân vùng biển đảo và ven biển. Có kế hoạch phát triển kinh tế biển đảo đi liền với bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái. Xây dựng, phát triển thương hiệu biển Việt Nam trong các lĩnh vực và vùng địa lý, trong đó có cảng nước sâu và khu kinh tế ven biển theo hướng kinh tế xanh.

Đẩy mạnh và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, phát huy những kinh nghiệm tốt, giải pháp hay trong công tác BVMT, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng sống cho người dân vùng biển đảo và ven biển. Có thể kể đến bài học kinh nghiệm hay của Tiền Hải - Thái Bình, Hậu Lộc - Thanh Hóa, Diễn Châu - Nghệ An và các huyện ven biển miền Trung trong việc trồng rừng phòng hộ, bảo vệ đê biển, chống xói lở qua các cơn bão lớn hàng năm. Các huyện này còn có kinh nghiệm tốt trong việc đẩy mạnh giáo dục truyền thông, nâng cao ý thức của người dân giữ gìn vệ sinh môi trường, phát huy hệ sinh thái ven biển, khắc phục sự cố tràn dầu, nghiêm cấm khai thác bừa bãi các vùng ven sông, biển, nhất là xây dựng được vùng biển sinh thái giàu có, trong lành và sạch đẹp.

Trong những năm tới, Đảng và Nhà nước ta đang có chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế biển. Theo hướng đó, các cấp, các ngành và các địa phương ven biển cần xây dựng chiến lược toàn diện, có sự điều tiết hợp lý và đề ra các sách lược đúng đắn trong nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên biển và hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiễm dải ven biển, bảo đảm sự phát triển kinh tế trong đá dạng sinh thái biển, đảo.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: