Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 20/09/2011 20:33 (GMT+7)

Bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững

Quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TƯ về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiếp đó, để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 29-CT/TƯ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TƯ của Bộ Chính trị. Trong thời gian qua, Quốc hội đã thông qua Luật BVMT (năm 2005). Luật Đa dạng sinh học (2008) và đang xem xét thông qua nhiều văn bản luật khác trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường (TN&MT). Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật và triển khai các Nghị quyết của Quốc hội. Thủ tướng Chính phủ thông qua Chiến lược quốc gia về BVMT; Định hướng phát triển bền vững đất nước. Kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng; Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH. Đặc biệt. Đại hội lần thứ XI của Đảng đã vạch ra những nhiệm vụ rất cơ bản trong công tác BVMT và phát triển bền vững.

Quán triệt và thực hiện đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thời gian qua công tác BVMT đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã được kiện toàn một bước. Tổng cục Môi trường được thành lập với vai trò quản lý, tổ chức và điều phối các hoạt động BVMT trên phạm vi cả nước. Lực lượng cảnh sát môi trường được hình thành, hoạt động ổn định, phát huy tác dụng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường. Ủy ban BVMT lưu vực các sông lớn, tổ chức quản lý môi trường ở địa phương được thiết lập và lừng bước phát huy hiệu quả. Các dự án đầu tư cải thiện môi trường, chi thường xuyên cho công tác BVMT được được bảo đảm ở mức tốt hơn. Nhìn chung, các điều kiện cơ bản, thiết yếu làm tiền đề, tạo thế và lực cho công tác BVMT thời gian tới được bảo đảm.

Được sự quan tâm chi đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội, công tác BVMT đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức về trách nhiệm, ý thức BVMT trong xã hội được nâng cao. Nhiều vụ việc lớn, vấn đề môi trường bức xúc, kéo dài được giải quyết dứt điểm (trường hợp VEDAN là một ví dụ). Các giải pháp BVMT phục vụ nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng được bảo đảm. Đã xuất hiện nhiều mô hình thành phố xanh, khu đô thị, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất xanh, mô hình kinh tế sinh thái gắn phát triển kinh tế với BVMT. Các ngành, lĩnh vực huy động được nhiều nguồn lực, sự hỗ trợ của quốc tế và từng bước chủ động ứng phó với BĐKH.

Chất lượng môi trướng vẫn đang xấu đi rất nhanh

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là, chất lượng môi trường đang xấu đi rất nhanh. Ô nhiễm lan rộng, mức độ trầm trọng hơn. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tràn lan, quá mức, thiếu sự kiểm soát. Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt, đã xuất hiện các "dòng sông chết". Hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung, còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường chưa được xử lý triệt để. Đa dạng sinh học suy giảm mạnh, gây mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi. BĐKH kéo theo triều cường, thiên tai, thảm họa diễn biến phức tạp, khó lường. Chỉ tính riêng năm 2009, đã có 11 cơn bão, triều cường ảnh hưởng đến nước ta, làm chết 435 người; làm đổ trôi 13.354 ngôi nhà; làm ngập úng, hư hại 237.799ha lúa; làm vỡ 9.424ha ao, hồ nuôi tôm cá; làm sạt, trôi, bồi lấp 3.033.202m 3đất công trình thủy lợi và 10.321.193m 3đất công trình giao thông,... ước tổng thiệt hại là 23.300 tỷ đồng. Thực tế này đang gây cản trở to lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nước.

Những vấn đề bức xúc về môi trường trên đây là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Thể chế, chính sách về BVMT và phát triển bền vững vẫn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Kinh tế phát triển theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài nguyên. Nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Gia tăng dân số, đô thị hóa nhanh gây áp lực lớn lên môi trường trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều khó khăn. Tư duy coi trọng tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ trách nhiệm BVMT vẫn còn phổ biến. Đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cho BVMT chưa đáp ứng được yêu cầu. Thể chế và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu nhân lực, nhất là ở các địa phương. Khâu tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém. Thiếu cương quyết trong xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về BVMT.

Kinh nghiệm cho thấy, những quốc gia đi theo con đường hy sinh môi trường để tăng trưởng kinh tế đều phải trả giá đắt cho sai lầm này. BVMT phải là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên. Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong BVMT và phát triển bền vững. Công tác này đòi hỏi phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, tiến hành đồng bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao nhất.

Những giải pháp đột phá

BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp các ngành và toàn xã hội. Vì mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, chúng ta cần phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và có những giải pháp đột phá quyết liệt:

Thứ nhất,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình "tăng trưởng xanh" trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT, ứng phó với BĐKH, tiến tới xây dựng nền "kinh tế xanh". Sau khủng hoảng kinh tế, cơ hội rất lớn cho việc tái cấu trúc các ngành kinh tế, lựa chọn mô hình tăng trưởng bền vững hơn. Cần phải coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển. Đã đến lúc mói không" với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Những bài học về xây dựng nền "kinh tế xanh" của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện tương tự như Việt Nam, rất có giá trị để chúng ta tham khảo. Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với BVMT, ứng phó với BĐKH. BVMT, ứng phó với BĐKH cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.

Thứ hai,đẩy mạnh kinh khoa, chuyển đổi nhanh, mạnh cơ chế nặng về "bao cấp", "xin - cho" trong quản lý tài nguyên và BVMT sang cơ chế thị trường nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng tầm đóng góp của ngành TN&MT trong nền kinh tế quốc dân. Nhất thiết phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm trong quản lý tài nguyên và BVMT cho phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải là các loại hàng hóa đặc biệt, môi trường phải có giá, ai hưởng lợi từ TN&MT đều phải trả tiền, ai làm suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường phải trả chi phí cải tạo phục hồi. Các cơ chế "bao cấp", "xin - cho" trong khai thác, sử dụng tài nguyên không còn phù hợp phải được loại bỏ hoặc thay thế. Các cơ chế đấu thầu, đấu giá và các công cụ kinh tế hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường phải được áp dụng phổ biến. Các loại thị trường trong lĩnh vực TN&MT phải hoạt động công khai, minh bạch và hiệu quả. Lợi ích thu được tờ TN&MT phải được tái phân bổ công bằng, hợp lý, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân. Sớm nhận ra nguy cơ và có biện pháp phòng tránh "lời nguyền về tài nguyên" ở nước ta.

Thứ ba,hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, chuẩn bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với BĐKH theo hướng thống nhất, công thằng, hiện đại và hội nhập, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng Bộ luật môi trường, hình thành hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm và thiếu khả thi. Hệ thống pháp luật về môi trường phải tương thích, đồng bộ trong tổng thể hệ thống pháp luật chung của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư,rà soát quy hoạch và chú trọng đầu tư cho công tác quy hoạch trên cơ sở tăng cường lồng ghép môi trường với quan tâm chính trị cao hơn nữa. Cần có cuộc cách mạng về công tác quy hoạch với tầm nhìn dài hạn 50 - 100 năm trên cơ sở cân nhắc lồng ghép yếu tố BVMT với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các ngành, các cấp Xây dựng Chiến lược ứng phó với BĐKH, nước biển dâng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, theo hướng thích ứng để sống chung với BĐKH. Với những thông tin và số liệu hiện có, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Việt Nam là một trong số các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH. Nhiều vùng ven biển, một phần lớn đồng bằng sông Hồng, sông Mê Công sẽ bị ngập trong nước biển trong thế kỷ tới. Thiên tai, bão. lũ, hạn hán sẽ gia tăng về quy mô và mức độ khốc liệt. An ninh lượng thực có khả năng bị đe dọa trong tương lai không xa. Vì vậy, cần phải có chiến lược ứng phó hiệu quả với BĐKH phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trước mắt, phải tăng cường công lác dự báo, cảnh báo, tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiến thức, hình thành ý thức phòng tránh, thích ứng với BĐKH ở các ngành, các cấp, từng khu vực và trong toàn xã hội, chuẩn bị sẵn sàng cho mọi sự biến đổi bất lợi của khí hậu, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Thứ năm,kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với tầm nhìn 10 - 20 năm cho một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ ngày càng phức tạp, nặng nề, đáp ứng yêu cầu về môi trường cho phát triển nhanh, bền vững; tạo cơ chế để huy động các thành phần kinh tế, toàn xã hội và tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế cho công tác BVMT, ứng phó với BĐKH. Trước mắt, tập trung kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý nhà nước ở địa phương, đặc biệt là cấp huyện. cấp xã theo hướng phải có cán bộ chuyên trách có chuyên môn, hiểu biết về môi trường. Nghiên cứu hình thành các cơ chế xét xử tài phán về môi trường, các tổ chức chứng nhận, công nhận về môi trường đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi người dân tham gia BVMT, làm kinh tế từ môi trường. Tạo điều kiện, hỗ trợ để các tổ chức phản biện xã hội về môi trường, các hội, hiệp hội về thiên nhiên và môi trường hình thành, lớn mạnh và phát triển, đóng góp tích cực trong hoạt động BVMT.

Thứ sáu,xây dựng nền văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, lối nghĩ, cách làm, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý quyết liệt, giải quyết dứt điểm các vụ việc về môi trường, các vi phạm pháp luật BVMT. Cần tạo bước chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức sang hành động cụ thể. Lấy chỉ số đầu tư cho môi trường, kết quả hoạt động BVMT cụ thể để đánh giá. Sớm đưa tiêu chí môi trường vào trong các hoạt động bình chọn, xét thi đua, khen thưởng.

Môi trường là vấn đề toàn cầu, là một trong ba trụ cột chính để đất nước phát triển nhanh và bền vững, sẽ là mối quan tâm lớn nhất của nhân loại trong những thập kỷ tới. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là kim chỉ nam cho cho chúng ta trong hoạt động BVMT, ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững đất nước trong thời gian tới.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.