Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 11/11/2014 20:38 (GMT+7)

Bao trái Xoài

1. Khái quát tình hình

        Xoài ( Mangifera indica L.) là cây ăn trái có thế mạnh thứ hai sau cây lúa tại huyện Cao Lãnh với diện tích ước khoảng 3.600ha, chiếm 68,8% diện tích cây ăn trái trong toàn huyện là nguồn cung cấp xoài cho cả nước và một phần cho xuất khẩu; đặc biệt, xoài Cát Hòa Lộc và Cát Chu là 2 giống xoài đặc sản có giá trị kinh tế cao của huyện Cao Lãnh nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung. Lợi nhuận bình quân/ha xoài từ 100-130 triệu đồng/ha, góp phần tăng thu nhập cho một bộ phận người làm vườn vùng ven quốc lộ 30 và tăng trưởng chung cho ngành Nông nghiệp huyện.
        Trước đây, theo phương pháp quãng canh, xoài chỉ ra hoa theo mùa; thời điểm thu hoạch rộ vào mùa thuận từ tháng 3-6 dl giá rất rẻ; ngược lại, vào mùa nghịch thu hoạch từ tháng 7-2 dl năm sau, giá bán rất cao. Từ đó, với việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, người làm vườn đã thành công trong sản xuất xoài mùa nghịch nhằm thu được lợi nhuận cao và hệ quả là nhiều loại dịch hại nghiêm trọng có nguy cơ bùng phát mạnh như: bệnh thán thư ( Colletotrichum gloesporioides), bệnh xì mủ trái ( Pseudomonas mangiferae), sâu đục hột, rệp sáp, ruồi đục quả gây tổn thất từ 30-70 % năng suất, chất lượng xoài; trong đó, có tổn thất do bệnh hại tấn công sau thu hoạch. Mặt khác, việc thâm canh cao độ trong quá trình sản xuất xoài đã làm số lần sử dụng thuốc BVTV tăng lên nhiều lần, dẫn đến chi phí sản xuất gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng và không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu. Đặc biệt, trong những đối tượng gây hại này, ruồi đục quả và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là đối tượng kiểm dịch gay gắt ở một số quốc gia có tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm cao như: Mỹ, Úc, Nhật, Newzealand. Trên thế giới, song song với biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, những nghiên cứu và ứng dụng về kỹ thuật bao trái nhằm hạn chế sâu bệnh trên những vườn xoài trồng bằng gốc tháp đã được biết ở Philippines từ thập niên 70 bởi Bondad (1977). Ở Việt Nam, những nghiên cứu và ứng dụng về kỹ thuật bao trái bằng các loại bao giấy thô sơ, thông thường được nghiên cứu bởi Trường Đại Học Cần Thơ, Viện Cây ăn quả miền Nam từ năm 1997. Tuy nhiên, vấn đề tìm loại bao trái có chất liệu thích hợp với điều kiện thời tiết, tập quán canh tác, giá cả hợp lý đối với người sản xuất là vấn đề bức xúc đối với sản xuất và tiêu thụ xoài trong thời gian qua. 
        Trên địa bàn huyện Cao Lãnh, kỹ thuật bao trái được áp dụng trên diện tích nhỏ từ năm 1997. Tuy nhiên, phải đến năm 2000, từ các chương trình khuyến nông của huyên, tỉnh và sự hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật (Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam) thì vật liệu bao trái chuyên dùng nhập nội từ Đài Loan trên xoài mới được bắt đầu sử dụng đầu tiên ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nói riêng và trên cả nước nói chung. 
        Từ đó đến nay, kỹ thuật bao trái với vật liệu chuyên dùng nhập từ Đài Loan được sử dụng rộng rãi và tăng dần với nhu cầu từ 3 đến 4 triệu bao trái cho mỗi năm. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, trong năm 2009, ngành Nông Nghiệp huyện đã hỗ trợ kinh phí cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thái Huỳnh nhập thiết bị và nguyên vật liệu bao trái từ Đài Loan đồng thời đưa vào hoạt động để sản xuất bao trái tại chỗ cung ứng cho các nhà vườn trong và ngoài tỉnh.

2. Tính mới, tính sáng tạo:
        - 
Kỹ thuật bao trái với chất liệu đặc biệt nhập nội từ Đài Loan như: không thấm nước, có khả năng cho ánh sáng xuyên qua và duy trì màu sắc trái như trong điều kiện sản xuất bình thường.
        - Có thể tái sử dụng qua 2 mùa vụ, dễ phân hủy trong môi trường ở điều kiện bình thường; dễ áp dụng và kết hợp với tỉa trái và xử lý thuốc BVTV trước khi bao trái góp phần tăng năng suất trái từ 40-55%, đặt nền tảng cho sản xuất xoài theo hướng GAP.

3. Khả năng áp dụng:
        
Từ hiệu quả của kỹ thuật bao trái với vật liệu nhập nội từ Đài Loan, ngành Nông nghiệp và Ban điều hành dự án trái phát triển cây ăn trái của huyện đã đẩy nhanh việc nhân rộng mô hình, tuy bước đầu gặp không ít khó khăn, do nhiều hộ nông dân chưa áp dụng đúng kỹ thuật; đa số, vườn xoài trên địa bàn huyện trồng từ hột, có chiều cây cao khó áp dụng kỹ thuật bao trái. Tuy nhiên, với sự quyết tâm chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngành Nông Nghiệp huyện đã áp dụng đồng bộ các giải pháp từ tỉa cành tạo tán, xử lý ra hoa mùa nghịch, phòng trị sâu bệnh hợp lý, áp dụng biện pháp bao trái đã cho thấy kỹ thuật này tỏ ra rất hiệu quả: như giảm được ít nhất từ 8-10 lần phun thuốc trừ sâu, bệnh/vụ, tỷ lệ trái loại 1 tăng lên do kết hợp bao trái, tỉa trái và phun thuốc trừ sâu, bệnh trước khi bao; năng suất trái từ 40-55%, đạt các tiêu chuẩn đánh giá về cảm quan cũng như chất lượng trái sau thu hoạch. 
        Song song đó, bệnh hại trên trái sau thu hoạch giảm từ 20-30% so với trái sản xuất trong điều kiện bình thường; tương đương với xử lý nước nóng và thuốc trừ nấm sau thu hoạch, góp phần kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch. Từ đó, nông dân đã áp dụng ngày càng rộng rãi kỹ thuật bao trái trong thời gian qua. Ngoài ra, những vườn xoài trồng từ hột, chất lượng kém được cải tạo bằng phương pháp tháp mắt với chiều cao cây thích hợp kết hợp với thang bao trái, dụng cụ bao trái chuyên dùng đã làm kỹ thuật bao trái ngày càng hoàn thiện và dễ áp dụng đối với nhà vườn. 
        Hiện nay, các nhà vườn trong huyện đã sử dụng biện pháp bao trái xoài trên 70% diện tích sản xuất xoài góp phần tăng sản lượng và chất lượng trái sau thu hoạch. Đặc biệt, đối với xoài Cát Hòa Lộc trong mùa mưa hầu hết đều được bao trái. 
        Từ những hiệu quả trên cho thấy, số lượng bao trái sử dụng tăng dần qua từng năm, cụ thể, năm 2.000 lượng bao trái tiêu thụ từ 5000-10.000 bao/năm đến năm 2006 số lượng 500.000 cái/năm và hiện nay theo thống kê sơ bộ, lượng bao trái tiêu thụ trên địa bàn huyện khoảng 3 - 4 triệu bao trái/năm; trong đó, từ đầu năm đến nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn Thái Huỳnh cung cấp 1.500.000 bao trái cho người trồng xoài trong và ngoài huyện.

3. Lợi ích kinh tế - xã hội:

- Lợi ích về kinh tế:
        
- Sử dụng bao trái chuyên dùng bằng vật liệu được sản xuất từ Đài Loan đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bao trái ngoài tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn qua vết thương; do đó, hạn chế tối đa bệnh thán thư và xì mủ trên trái gây ra làm tăng năng suất từ 40 – 55% và tăng chất lượng trái xoài sau thu hoạch, màu sắc trái đẹp, bệnh trái sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 3-5 ngày so với bình thường.
        - Bao trái khi trái đã qua giai đọan rụng trái sinh lý (40 – 50 ngày tuổi) là hiệu quả nhất, trước khi bao trái phun thuốc trừ sâu, bệnh kết hợp với tỉa trái đã làm giảm được từ 8 -10 lần phun thuốc trong suốt vụ. Mỗi ha xoài lợi nhuận tăng 50.000.000 đồng so với phương pháp canh tác truyền thống. Với diện tích toàn huyện có 3.608 ha , nếu ứng dụng kỹ thuật bao trái thì lợi nhuận tăng thêm ước tính khoảng 200 tỷ đồng.

- Lợi ích xã hội: 
         Lượng thuốc trừ sâu bệnh giảm đi từ 5-10 kg/ha góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật an toàn đối với sức khỏe của cộng đồng.
         Tạo tiền đề cho sản xuất xoài theo hướng Global GAP và xuất khẩu cho các thị trường có tiêu chuẩn khắt khe trong tương lai.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Các tổ chức đối tác quốc tế của VUSTA gửi thư chúc mừng Đại hội XIV thành công tốt đẹp
Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức thành công tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã nhận được thư chúc mừng từ Hiệp hội Giáo dục và Hữu nghị châu Á và Liên đoàn các tổ chức kỹ sư Myanmar.
RIC triển khai Dự án hỗ trợ người dân khắc phục sau bão số 10, 11 tại Tuyên Quang
Ngày 22-23/01, Trung tâm RIC - tổ chức KH&CN phi lợi nhuận trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam phối hợp với Tổ chức Plan International Việt Nam tổ chức cấp phát tiền mặt cho tổng số 287 hộ dân thuộc 02 xã: Lao Chải và Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang để khắc phục hậu quả thiên tai do bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơn bão số 10 và 11 năm 2025 gây ra.
Liên hiệp hội TP. Cần Thơ tổng kết hoạt động năm 2025: Khẳng định vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức KH&CN
Ngày 20/1, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Cần Thơ (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Hội nghị là dịp đánh giá toàn diện kết quả hoạt động của Liên hiệp hội trong năm qua; đồng thời ghi nhận, tôn vinh những tập thể, cá nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thành phố.
Lịch sử các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mỗi kỳ Đại hội không chỉ là dấu mốc chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc, mà còn ghi dấu những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên chặng đường xây dựng và phát triển đất nước.