Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 06/04/2006 00:17 (GMT+7)

Bàn về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam

Trước nhất, từ lâu chúng tôi vẫn kính phục nhà Phật học uyên thâm Lê Mạnh Thát. Ông là tác giả bộ từ điển Sanscrit Việt NamViệt Nam Sanscrit. Ông là nhà biên khảo nhiều kinh tạng đạo Phật thật công phu. Vừa giỏi chữ Hán, vừa giỏi cả Sanscrit lẫn Pali, dĩ nhiên, tác giả Lê Mạnh Thát có điều kiện hơn ai hết để diễn giải các vấn đề uẩn súc nhất của Nho học và Phật học. Như vấn đề chữ “Hiếu” chẳng hạn.

Nhưng chỉ căn cứ vào “ Mâu Tử lý hoặc luận” để khẳng định rằng “ Có sự khác biệt cơ bản giữa tư tưởng hiếu đạo của người Việt Nam và hiếu đạo của người Trung Quốc”thì chúng tôi e rằng lý luận đó không vững.

Trước nhất, như giáo sư Minh Chi đã viết ở trang 6, cột 12 bài “Quan hệ giữa Nho giáo và Phật giáo ở Việt Nam”: “Có thể nói toàn bộ lời phê phán của Nho gia trong cuốn Lý hoặc luận đều phạm sai lầm chủ quan, cái sai lầm mà logic học Phật giáo hay nhân minh học Phật giáo gọi là sở y bất thành, nghĩa là chỗ dựa để lập luận là không vững, bất thành… Tuy trong lời phê phán này, chỗ dựa của Nho gia là thực tế có thật nhưng vấn đề là thực tế nào? Nếu đó chỉ là thực tế cá biệt, số ít, không phải là tiêu biểu thì dựa vào thực tế một vài người mà phê phán chung cả một đạo cũng là một sai trái về biện luận logic”.

Và giáo sư Minh Chi xác định rõ: “ Tác giả Mâu Tử là một người Hán ở Giao Châu. Có thể nói đó là một người Hán đã Việt hoá, một Nho sĩ chính thống và uyên bác, nhưng về sau lại theo đạo Phật…”.

Mâu Tử đã phê phán Nho giáo theo quan điểm của một nhà Phật học, nên ông đã sử dụng phương pháp biện luận bằng những câu vấn nạn, với tỷ lệ 25/37 câu vấn nạn, nói về Nho giáo, để bài bác Nho giáo và bệnh vực Phật giáo: “ Phật giáo như mặt trời giữa trưa, Nho giáo như đuốc sáng, Phật giáo như Phượng hoàng, như núi Thái Sơn, như sông Trường Giang, còn Nho giáo như chim sẻ, như gò đống, như ngòi lạch v.v…

Với lối biện luận thiên vị và chủ quan như vậy, thử hỏi các nhà nghiên cứu có chấp nhận các lý luận của Mâu Tử là trung thực và khách quan không. Đã không trung thực và không khách quan thì các học giả có nên lấy tác phẩm ấy làm cơ sở cho các lý giải của mình không?

Tác giả đã sử dụng cả hai phép Diễn dịch và Quy nạp để chứng minh là “ Dân tộc Việt Nam có quan niệm về chữ hiếu khác hẳn quan niệm về hiếu của người Trung Quốc”. Nhưng tác giả có lẽ đã cảm nhận có điều gì còn lấn cấn, nên đã cẩn thận viết thêm câu: “ Cần nhớ là chữ hiếu trong tiếng Phạn không có một từ tương đương với chữ hiếu của tiếng Hán”.

Và chính điều cần nhớ này đã khiến cho toàn bộ lôgic trong bài của tác giả vấp phải một chướng ngại: Đó là vấn đề chính danh của ngôn từ. Ý nghĩa của ngôn từ trong các học thuyết, tôn giáo và triết lý mỗi nơi mỗi khác, mỗi thời mỗi khác và mỗi người dùng mỗi khác: Chữ “Ngã” của Phật Thích Ca trong câu “ Thiên Thượng Thiên Hạ, duy ngã độc tôn” “không phải là chữ Ngã” của Nho gia. Chữ “hiếu” của Nho gia chắc hẳn không phải chữ “hiếu” của Phật giáo.

Và điểm lấn cấn trong chuỗi lý luận của tác giả là chỗ bất đồng giữa hai chữ “hạnh” của Hiếu kinhvà kinh Tu Đại Noa.

- Theo Hiếu kinh:

“Hạnh con người không gì lớn hơn Hiếu” (Nói về đạo hiếu của Nho giáo)

- Theo kinh Tu Đại Noa:

“Giúp người cứu thiếu thương nuôi quần sinh là đứng đầu của hạnh” (Nói về hạnh từ bi của Phật giáo).

Nhưng tác giả đã suy diễn vội vàng theo phép tỷ giảo (comparaison) sau đây:

1- Hiếu là hạnh lớn nhất

2- Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh là hạnh đứng đầu.

3- Hạnh đứng đầu = Hạnh lớn nhất.

4- Vậy Hạnh đứng đầu là Hiếu. Mà người Lạc Việt đã có một Hạnh đứng đầu thì “Người Lạc Việt có đạo Hiếu riêng và đạo Hiếu này là đạo Hiếu theo tiếng Phạn chứ không phải đạo Hiếu theo tiếng Hán”.

Lý luận này lôgic học gọi là luận lý lỏng lẻo, chỗ lỏng lẻo là sự khác biệt giữa cái Hạnh của đạo Nho (hiếu) và cái Hạnh của đạo Phật (Từ bi). Sơ sót này rất dễ mắc phải vì ngộ nhận. Nhưng nếu không phải vì ngộ nhận mà cố tình biện hộ thì chính là Sophisme, tức nguỵ biện.

Theo tôi nghĩ nếu người Việt thời đó có một đạo thực sự, thì đó phải là cái đạo gì khác, như đạo thờ vật tổ (Totem), đạo thờ mặt trời, đạo thờ tổ tiên, thờ anh hùng, thờ Lạc Long Quân, thờ Bố (cha), thờ Cái (mẹ), thờ thần núi, thờ thần sông… chứ chưa có Đạo Hiếu (chữ của Đạo Nho). Theo lịch sử tiến hoá thì thời Hùng Vương người Lạc Việt còn ở thời kỳ đồ đá và đồ đồng (văn minh Hoà Bình và Đông Sơn), còn theo chế độ mẫu hệ và đa thần giáo. Họ chưa có khái niệm trừu tượng về triết học và tôn giáo học cho nên trong ngôn ngữ chưa có chữ Hiếu. Đây chỉ là từ Hán Việt vay mượn của Trung Quốc, của Khổng giáo, du nhập từ thời Bắc thuộc.

Chữ “Hiếu” của Nho giáo là một từ trừu tượng được ghi theo lối tượng hình ( Thượng lão hạ tử: Trên chữ Lão dưới chữ Tử). Lão là già, Tử là con. Ý nối “bổn phận làm con phải tôn kính người già cả trên mình, người xưa đặt ra chữ hiếu đã có dụng ý nhắc nhở bổn phận của con cái phải phụng tự cha mẹ, ông bà. Về sau mới có cách giải thích thêm của Mạnh Tử: “Bất hiếu chữ tam, vô hậu chi đại”. Chữ hiếu mang thêm ý nghĩa “ làm rạng danh tổ tiên và di truyền nòi giống”.

Ta cũng nên nhớ trước khi đạo Nho du nhập, người Lạc Việt vẫn có tập tục thờ cha kính mẹ. Mười tám đời vua Hùng Vương (1) vẫn không có truyền thuyết nào nói việc giết cha để cướp ngôi hay loạn thần, tặc tử là điều trái đạo. Vậy cái gì đã giữ cho xã hội có kỷ cương, nề nếp như vậy suốt cả nghìn năm? Đó đâu phải là đạo hiếu hay đạo Nho. Xã hội Lạc Việt đã có kỷ cương riêng, có nền văn hoá riêng. Dù trong Tiền Hán Thư, Đỗ Khâm khẳng định “ Hiếu nhân hạnh chi sở tiên”. Ý này Lê Mạnh Thát dịch là “ Hiếu đứng đầu mọi hạnh của con người”.

Chữ Phúc là bức tranh được tạo thành từ những hình ảnh của 24 tấm gương về lòng hiếu thảo Dù vậy, ta vẫn chưa có bằng cớ nào chắc chắn để tin rằng “Người Lạc Việt vốn đã có đạo hiếu riêng của họ” vì các lý do sau đây:

1- Giữa kinh Tu Đại Noa(Phật giáo) và Kiếu kinh(Nho giáo) chưa có điểm thống nhất về một hạnh đứng đầu của con người.

- Kinh Tu Đại Noabảo “ Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh là đứng đầu của hạnh”. Theo kinh Tu Đại Noa “ Bố thí mới là hạnh đứng đầu của con người”. Như vậy Phật giáo chủ trương nhân ái và bố thí, tức là lấy chữ Nhân làm đầu, cao hơn Hiếu.

- Còn Hiếu kinh của Nho gia mà Đỗ Khâm nhắc lại hai lần trong Tiền Hán Thư (T.H.T 60 và T.H.T 71) đều có ý bệnh vực lý của đạo Nho cho “ Hiếu là hạnh tối thượng”. Tức là sự bất đồng quan điểm giữa Mâu Tử và Đỗ Khâm trước một vấn đề. Chưa phải cả hai đã thống nhất với nhau về vấn đề chữ Hiếu. Dẫu trong kinh Phật cũng có bàn đến Hiếu, nhưng đạo Phật không coi bổn phận làm con đối với cha mẹ là tối thượng. Nếu đồng ý với chữ Hiếu của Nho giáo, Phật giáo sẽ khó biện minh việc Phật lìa bỏ gia đình để xuất gia.

Do đó, truyện Tu Đại Noa là một dẫn chứng về cái Hạnh cao nhất của Phật giáo: “ từ bi, nhân ái, thương giúp nhân quần xã hội” cao hơn việc “ thủ hiếu để nối dõi tông đường”.

2- Ta cần đặt thêm giả thuyết là có sự tranh chấp giữa cái Hạnh cao nhất của Phật giáo và cái Hạnh cao nhất của Nho giáo. Tức là có sự tranh cãi giữa hai phái Nho học và Phật học để giành lấy vị trí độc tôn. Giả thiết này có thật vì đây là động cơ rõ nhất để Mâu Tử viết “ Mâu Tử lý hoặc luận”. Và thời Đỗ Khâm viết Tiền Hán Thư, cuộc tranh cãi này vẫn còn. Khi có tranh cãi thì phải có “mỗi người giành lấy cái lý đúng nhất của mình”. Phật cho Hạnh của Phật là cao, Nho cho hạnh của Nho là cao. Do đó, nếu ta lấy cái lý của Phật giáo bảo “ bác ái, từ bi” là hạnh cao nhất để biện minh cho đạo hiếu của Nho giáo, hoặc làm ngược lại, tức là “râu ông đi cắm cằm bà”. Như vậy có phi lý không?

3- Chúng ta cũng không quên theo quy luật ngôn ngữ học, từ ngữ biến đổi theo thời gian, xuôi dùng lịch sử, xuyên qua các thời đại, chứ không thể ngược dòng lịch sử. Từ “hiếu” là một từ Hán Việt ta mượn của Trung Quốc. Trong tiếng Nôm, ta không có từ “hiếu”. Dân tộc Việt Nam thời nguyên thuỷ chưa có khái niệm về đạo hiếu. Người Lạc Việt thời Hùng Vương vẫn không có đạo hiếu, dù với hình thức khác với đạo hiếu của Trung Quốc. Nếu có, tất yếu ta phải có một từ tương đương để chỉ khái niệm ấy. Nếu tiếng Nôm không có từ hiếu, mà tiếng Việt chỉ có từ hiếu mượn của tiếng Hán, thì không thể bảo xã hội Lạc Việt thời tiền Nho giáo và tiền Phật giáo đã có đạo hiếu. Đó chỉ là một cách giả thiết thôi. Vì đặt vấn đề ngược dòng lịch sử. Đã có giả thiết thì chẳng có gì cụ thể. Tại sao họ phải có “Đạo Hiếu” mà không phải là “Đạo người”, “Đạo thờ cha mẹ”, “Đạo trời”, “Đạo đất”, v.v… là những từ lấy từ tiếng Nôm?

Đến đây, kính mong học giả Lê Mạnh Thát hoan hỉ miễn chấp cho những trực ngôn. Nhưng Phật Pháp vốn khuyên ta nên phá chấp. Đã phá được cái chấp về chữ “hiếu” như học giả đã trình bày thì cũng xin phá luôn cái chấp về luận lý, để cho luận điểm của Phật gia đạt thành viên mãn.

____________________

(1) Ngày nay, các nhà sử học đã thừa nhận mỗi đời Hùng Vwơng trong 18 đời không phải là một vị vua trị vì liên tục mà là thời gian cai trị của một bộ tộc người, vào thời “cộng sản nguyên thuỷ”. Vì không có lý mỗi vị vua trị vì hơn một trăm năm.

Nguồn: Xưa và Nay số 248, 11/2005, tr 24, 25

Chữ Phúc là bức tranh được tạo thành từ những hình ảnh của 24 tấm gương về lòng hiếu thảo

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.