Bài toán “đàn bò sữa” chưa có lời giải
Hồng Văn
Hơn ba tuần trước, Tuyên Quang là địa phương đầu tiên trong cả nước đã tuyên bố phá sản chương trình phát triển bò sữa được triển khai ồ ạt theo mệnh lệnh hành chính từ năm 2002. Sau Tuyên Quang, hàng loạt địa phương khác đã tạm ngưng chương trình này. Ở phía bắc có Thái Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ với đàn bò ban đầu của ba tỉnh này hơn 1.500 con, nay nông dân bán tống bán tháo chỉ còn vài trăm con để nuôi lấy thịt. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên thừa nhận gần 700 con bò sữa của tỉnh nằm trong chương trình phát triển bò sữa không có hiệu quả và phải tạm dừng, chuyển sang phát triển bò thịt. Ở ĐBSCL có An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long cũng dừng phát triển chương trình này.
Nhớ lại khi bắt đầu phát triển chương trình vào năm 2002, chính quyền nhiều địa phương bất chấp các khuyến cáo về hiệu quả kinh tế đã khuyến khích doanh nghiệp và nông dân đầu tư mua bò sữa nhập khẩu để phát triển chương trình sau khi thấy TPHCM, Bình Dương và Long An phát triển bò sữa có hiệu quả kinh tế. Phần lớn nông dân mua bò sữa nhập khẩu với giá hơn 1.500 đô la Mỹ mỗi con, chưa kể chi phí đầu tư chuồng trại, thuốc thú y, trồng cỏ và nhiều chi phí khác.
Ông Nguyễn Đăng Vang, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, cho biết có ít nhất 10 tỉnh đã tạm dừng phát triển bò sữa vì không có hiệu quả kinh tế, nông dân và doanh nghiệp càng nuôi càng thua lỗ. “Điều kiện tự nhiên không thuận lợi, nông dân không có kinh nghiệm, thiếu nhà máy chế biến, nuôi quy mô nhỏ lẻ là các nguyên nhân gây phá sản chương trình phát triển bò sữa ở nhiều địa phương”, ông Vang giải thích. Ông cũng thừa nhận, chính quyền một số địa phương quá nóng vội khi phát triển chương trình bò sữa bằng mệnh lệnh hành chính, theo kiểu phong trào và xem con bò sữa là hy vọng đổi đời cho nông dân nghèo ở địa phương.
Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tuy cả nước hiện nay chỉ có 20.000 hộ nông dân chăn nuôi bò sữa (trong tổng số hàng triệu hộ nông dân cả nước) nhưng ngành chăn nuôi bò sữa lại “ngốn” lượng vốn đầu tư khổng lồ. Cả nước hiện có 106.000 con bò sữa và chỉ tính riêng giá trị của đàn bò thì đã là 100-160 triệu đô la Mỹ, chưa kể chi phí đầu tư khác cho chăn nuôi mà theo tính toán của cơ quan này con số cũng xấp xỉ như vậy.
Một chuyên gia của Bộ Thương mại cho biết sữa tươi nhập khẩu hiện phải chịu 20% thuế nhập khẩu và 10% thuế giá trị gia tăng; sữa bột nhập khẩu phải chịu 15% thuế nhập khẩu và 10% thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, một khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống ít nhất một nửa và lúc đó, sữa tươi của ngành chăn nuôi bò sữa sẽ đối mặt với sự cạnh tranh lớn từ sữa nhập. Cứ giả định hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO thì giá sữa tươi nhập khẩu về đến Việt Nam chỉ còn 4.790 đồng/ki lô gam, trong khi đó giá thành sữa tươi trong nước bình quân là 3.487 đồng/ki lô gam. Điều này dễ dẫn đến nhận định sữa tươi trong nước có thể cạnh tranh được với sữa nhập, giống như nhận định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Thế nhưng, ông Lưu Văn Tân, phụ trách bộ phận phát triển sữa của Dutch Lady Vietnam, cho rằng sức cạnh tranh của đàn bò sữa không chỉ ở giá bán sữa, mà chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng sữa. Chẳng hạn sữa tươi ngoại nhập có hàm lượng chất béo, chất thô cao lại có thể cung cấp sản lượng lớn thì các nhà thu mua dễ dàng chấp nhận hơn so với sữa trong nước.
Theo khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, giá bán sữa (đã qua chế biến) tại Việt Nam thuộc nhóm cao trong 27 quốc gia mà viện này khảo sát, chỉ đứng sau Na Uy, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Đan Mạch. Sở dĩ giá bán lẻ sữa cao như vậy là do chi phí chế biến và lưu thông của các doanh nghiệp quá cao, lên tới 0,62 đô la Mỹ/ki lô gam. Vì vậy khi Việt Nam gia nhập WTO, không chỉ đàn bò sữa gặp khó mà chính các nhà máy chế biến sữa cũng sẽ lận đận.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 39-2006








