“Bài học Việt Nam”
G.Ford là người kế nhiệm R.Nixon vị tổng thống đã phải từ chức sau vụ bê bối Watergate và ai cũng biết cặp bài trùng cùng tổng thống Mỹ trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam chính là Henri Kissinger, Cố vấn an ninh của Nhà Trắng, là người thiết kế chiến lược toàn cầu trong đó có mục tiêu “rút lui trong danh dự” đối với cuộc Chiến tranh Việt Nam. Đó là lý do vì sao, G.Ford đã yêu cầu H.Kissinger phải tư vấn cho mình “một bài học về Việt Nam ” để giải thích với dư luận.
Văn bản tư vấn đã được H.Kissinger soạn thảo dưới hình thức một “bản ghi nhớ” kèm theo dòng chữ “bí mật” (bị gạch xoá), “nhạy cảm” và “trình riêng” ghi rõ địa chỉ gửi tới: “Tổng thống”, người gửi “Henry A. Kissinger” và vấn đề “Bài học Việt Nam ”. Những tài liệu này về sau mới được công bố trong cuốn sách “Không hoà bình, chẳng danh dự. Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam” của Larry Berman xuất bản năm 2001 và được Nguyễn Mạnh Hùng dịch ra Việt ngữ năm 2003 do Việt Tide xuất bản. (Nhân dân xin cảm ơn ông L. Berman đã tặng tôi ấn phẩm này khi có dịp sang thăm Việt Nam , 2004).
“Bài học Việt Nam” mà H.Kissinger, người một thời được coi là bộ óc thông thái nhất hoàn cầu viết ngay sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam vừa kết thúc, là một sự thú nhận thất bại nặng nề của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng cũng cố gài vào đó một vài quan điểm nhằm bào chữa cho những sai lầm và trách nhiệm của chính mình với tư cách là một quân sư hàng đầu của Tổng thống R.Nixon. Xin giới thiệu với bạn đọc văn bản này làm tư liệu tham khảo.
DTQ giới thiệu
Theo lời yêu cầu của Tổng thống tôi đã chuẩn bị một số ý kiến về “Bài học Việt Nam ” để ngài cứu xét và dùng làm dữ kiện căn cứ để trả lời những câu hỏi của báo chí về vấn đề này trong tương lai.
Điều đáng kể là, tuy cuộc chiến kéo dài trong nhiều năm, được tường thuật và thảo luận sôi nổi như thế, mà chúng ta cũng chẳng rút ra được bao nhiêu bài học về kinh nghiệm Việt Nam có thể áp dụng tại nơi khác, mặc dầu việc cố rút ra bài học Việt Nam là một điều hấp dẫn. Việt Nam là một trường hợp độc đáo về phương diện địa dư, chủng tộc, chính trị, quân sự và ngoại giao. Có lẽ chúng ta phải hiểu rõ điều đó và phải công nhận sự thật này thay vì cố áp dụng “bài học Việt Nam” một cách phổ quát như có thời chúng ta đã cố áp dụng “bài học Munich”.
Về phương diện bình luận và lượng giá, sự ấm ức thật sự về Việt Nam có thể là, tuy cuộc chiến có hậu quả gần như phổ quát nhưng nó lại không cho ta một cẩm nang phổ quát để giải quyết vấn đề tương tự.
Điều mà các bình luận gia thường ưu làm là rút ra những kết luận về sự thiếu kiên trì của người Mỹ và sự thất bại tối hậu của ý chí chúng ta. Nhưng tôi thắc mắc là liệu chúng ta có thể chấp nhận được kết luận ấy không. Đó là cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh ở xa nhất, ít liên hệ rõ rệt nhất đến những quan tâm cần thiết của nước ta, nhưng nhân dân Hoa Kỳ vẫn ủng hộ sự can dự của chúng ta và các mục tiêu tổng quát của sự can dự ấy cho đến phút chót. Nhân dân Hoa KỲ đã chấp nhận những hy sinh to lớn. Tôi tin rằng, ngay cả đến phút chót, họ vẫn sẵn sàng ủng hộ một chính sách cứu được Nam Việt Nam nếu chúng ta có lựa chọn đó.
![]() |
Quân Mỹ lên máy bay về nước tại Tân Sơn Nhất - Sài Gòn |
Nếu có thể đề nghị những đường lối chỉ đạo cho tương lai về bài học rút ra về sự hậu thuẫn trong nước đối với chính sách ngoại giao, người ta có thể nói rằng các nhóm chính trị Hoa Kỳ sẽ không thể giữ lâu được một lập trường đi ngược lại với thái độ truyền thống của họ. Những người có khuynh hướng tự do trong đảng Dân chủ không thể ủng hộ lâu dài một cuộc chiến tranh chống lại một phong trào cách mạng, bất kể tính cách phản động trong chiến thuật của phong trào ấy ở trong nước. Họ chấp nhận sự cam kết quan trọng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam vì tình đối với Tổng thống Kennedy, mà họ coi là người lãnh đạo họ, nhưng họ đã rút lại sự ủng hộ này dưới thời Tổng thống Johnson.
Tuy nhiên, một bài học rõ rệt có thể rút ra là sự quan trọng của sự thành thật và khách quan tuyệt đối trong mọi báo cáo trong chính phủ với nhau và từ phía chính phủ cũng như từ phía báo chí. Trong một thời gian dài, những báo cáo chính thức của Hoa Kỳ thường quá lạc quan, với hậu quả là những tuyên bố của chính phủ không cho nhân dân Hoa Kỳ biết rõ cuộc chiến có thể kéo dài và khó khăn đến mức nào. Sau một thời gian, những tường thuật bi quan của báo chí bắt đầu được tin hơn vì những kết quả tích cực xuất hiện quá chậm để biện minh cho những lượng giá lạc quan của Hoa Thịnh Đốn. Tại Việt Nam, tình hình thường tệ hơn là một số báo cáo và tốt hơn một số báo cáo khác. Nhưng những báo cáo bi quan, dù chúng sai lạc, cũng bắt đầu được coi như sát sự thật hơn cho đến khi hầu hết bất cứ một tuyên bố nào của chính phủ cũng bị coi là thiên lệch, không những bởi những người chống đối mà còn bởi một quần chúng ngày càng hoài nghi hơn.
Một bài học khác là sự quan trọng tuyệt đối phải tập trung các nhận xét của chúng ta vào cuộc thảo luận công khai vào những điểm chính – dù những điểm chính ấy không được thấy rõ mỗi đêm trên màn ảnh truyền hình. Cuộc thảo luận về Việt Nam thường trở thành sự mê hoặc với các vấn đề mà nhiều nhất cũng chỉ có tính cách thứ yếu. Những “chuồng cọp” được coi như biểu tượng của sự đàn áp của chính phủ Nam Việt Nam, mặc dù chính phủ ấy đang phải đối phó với một kẻ địch đã ám sát, hành hạ và bỏ tù một số người lớn hơn gấp bội; chương trình “Phượng Hoàng” trở thành một mục tiêu đả kích mặc dù chiến thuật của Bắc Việt và của Việt Cộng còn tàn ác hơn nhiều. Vũ Mỹ Lai bêu xấu hình ảnh một Quân đội Hoa Kỳ thường hay - chứ không phải là luôn luôn - tỏ ra có lòng thương người khi đối xử với thường dân vô tội. Và đến lúc chót, phần lớn các cuộc thảo luận công khai đã tập trung vào sự thất bại của Tổng thống Thiệu là không thu phục được hậu thuẫn chính trị, nhưng chính Cộng sản là những người đã bác bỏ các cuộc bầu cử tự do và đem vào Nam các sư đoàn trù bị của họ vì họ không có hậu thuẫn của quần chúng. Và ở trong nước, người ta lập luận rằng yêu cầu viện trợ của Tổng thống đồng nghĩa với sự tái can dự của Hoa Kỳ [vào Việt Nam] trong khi Tổng thống không hề nghĩ đến việc ấy.
Trung thành với tính nhất quán có thể là điều quan trọng không kém. Khi Hoa Kỳ tham dự vào cuộc chiến trong thập niên 1960, Hoa KỲ đã can dự một cách quá đáng khiến cho không những nó đã chấm dứt sự nghiệp và cuộc đời của một nhà lãnh đạo một quốc gia đồng minh mà còn có thể đã gây ra những tổn hại trầm trọng cho nền kinh tế Hoa Kỳ và đã đổ hơn nửa triệu quân vào một quốc gia nơi chúng ta chưa bao giờ có trên 100.000 người thực sự tác chiến. Cuối cùng, những thái quá trong chiều hướng ngược lại đã khiến chúng ta không thể xin được Quốc hội cấp cho khoảng 2 hay 3 phần trăm số tiền mà trước kia hàng năm Quốc hội đều chuẩn chi. Khi chúng ta tham dự vào cuộc chiến, nhiều người đã viện dẫn lý do đạo đức để biện minh cho sự tham dự ấy. Trước khi cuộc chiến chấm dứt, nhiều người chống lại nó vì lý do đạo đức. Nhưng không ai nói đến đạo đức của sự nhất quán, hay đến ưu điểm của việc đi đến cùng một khi phí tổn của sự tham dự đã được giảm đến mức có thể chịu đựng nổi.
Về phương diện chiến thuật quan sự, chúng ta không thể không kết luận rằng quân đội của chúng ta không thích hợp với loại chiến tranh này. Ngay cả Lực lượng Đặc Biệt đã được huấn luyện để làm việc này cũng không thể đánh thắng được. Điều này một phần vì bản chất của cuộc chiến tranh. Nó vừa là một cuộc chiến tranh cách mạng đánh nhau bằng dao ở trong làng trong đêm tối. Nhưng nó cũng là một cuộc chiến tranh của quân chủ lực trong đó kỹ thuật có thể ảnh hưởng quyết định. Cả hai bên đều gặp khó khăn trong việc tìm chiến thuật thích hợp cho mỗi loại chiến tranh. Nhưng chúng ta và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này hơn là phe bên kia. Ở đây, chúng ta cũng bị khó khăn vè những thái quá: khi chúng ta biến chiến tranh thành cuộc “chiến tranh của chúng ta”, chúng ta không để cho người Nam Việt Nam chiến đấu; nhưng sau này khi nó trở thành cuộc “chiến tranh của họ” chúng ta lại không chịu giúp họ chiến đấu. Mỉa mai thay, chúng ta chuẩn bị Nam Việt Nam cho loại chiến tranh quy ước sau năm 1954 (vì dự đoán sẽ có một cuộc tấn công kiểu Triều Tiên), và họ đã phải đương đầu với một cuộc chiến tranh chính trị; họ đã tự chuẩn bị cho loại chiến tranh chính trị sau năm 1973 để rồi phải đương đầu với cuộc xâm lăng của chủ lực quân 20 năm sau khi loại chiến tranh đó được dự đoán.
Nền ngoại giao của chúng ta cũng bị thiệt hại trong tiến trình đó, và chúng ta cần phải có một thời gian mới phục hồi được. Chúng ta thường thấy Hoa Kỳ không thể duy trì một lập trường ngoại giao lâu hơn vài tuần hay vài tháng trước khi nó bị đả kích bởi chính những phần tử chính trị trước kia đã cổ vũ cho lập trường ấy. Cuối cùng, chúng ta lại phải thương thuyết với chính chúng ta, liên tục làm hết nhương bộ này đến nhượng bộ khác trong khi Bắc Việt không thay đổi một chút nào mục tiêu ngoại giao của họ và thay đổi rất ít trong lập trường ngoại giao của họ. Chỉ trong lúc điều đình bí mật chúng ta mới có thể đến gần được một cuộc đối thoại chân chính, và ngay cả trong trường hợp này Bắc Việt vẫn có thể làm cho chúng ta phải liên tục chịu áp lực của công chúng. Ngoại giao của chúng ta, vì thế, thường bị hạ xuống thành những cố gắng hốt hoảng để tìm những phương thức đem lại cho ta sự hậu thuẫn nhất thời và sao lãng những khác biệt rõ rệt giữa chúng ta và Bắc Việt. Di sản của điều này còn ám ảnh chúng ta khiến chúng ta khó duy trì được một lập trường ngoại giao trong một khoảng thời gian nào đó mà không bị chỉ trích từ trong nội bộ, bất kể kẻ thù của chúng ta ngoan cố đến bao nhiêu.
Cuối cùng, chúng ta phải tự hỏi liệu tất cả những cố gắng của chúng ta có đáng không, hay ít nhất chúng ta đã được lợi cái gì. Tôi tin rằng có nhiều điều lợi, tuy từ lâu chúng không được đếm xỉa đến, và tôi sợ rằng bây giờ chúng ta mới bắt đầu nhận thức rằng chúng ta cần phải củng cố vị thế của chúng ta ở những nơi khác một khi chỗ đứng của chúng ta ở Việt Nam bị mất. Chúng ta có thể bị bó buộc phải ủng hộ mạnh mẽ hơn những tình trạng khác để sửa chữa những tổn hại và phải lấy những lập trường cứng rắn hơn để cho những người khác có thể lại tin tưởng được ở chúng ta.
Tôi luôn luôn tin, cũng như nhiều quan sát viên khác, rằng quyết định cứu Nam Việt Nam của chúng ta năm 1965 đã tránh cho Nam Dương rơi vào tay Cộng sản và có lẽ đã bảo vệ được sự hiện diện của chúng ta ở Á Châu. Điều này có nghĩa là không những chúng ta đã giữ quân đội ở đó. Nó còn có nghĩa là chúng ta duy trì được sự hiện diện kinh tế cũng như ảnh hưởng chính trị, và các quốc gia bạn - kể cả Nhật Bản - không cảm thấy họ phải tự lo bảo vệ lấy mình. Khi chúng ta xét đến ảnh hưởng của những gì đang xảy ra, chúng ta cần nhớ rằng mười năm trước ảnh hưởng ấy có thể lớn như thế nào khi phong trào Cộng sản còn được nhiều người coi như một khối nhất nguyên chắc chắn sẽ nhấn chìm tất cả chúng ta. Vì thế, trong những lời tuyên bố công khai của chúng ta, tôi tin rằng chúng ta có thể ngửa cao mặt mà không phải tự hành hạ chúng ta và chúng ta không nên coi vai trò của chúng ta trong cuộc chiến tranh ấy như một thảm hoạ ô nhục. Tôi tin rằng những cố gắng của chúng ta, về phương diện quân sự, ngoại giao và chính trị, không phải là vô ích. Chúng ta đã trả một giá đắt nhưng chúng ta mua được thời gian mười năm và chúng ta đã thay đổi được cái mà lúc đó tưởng như một động lượng không thể cưỡng được. Tôi tin rằng quân đội và nhân dân của chúng ta chẳng có lý do gì phải xấu hổ.
Nguồn: T/c Xưa & Nay, số 258, 4/2006, tr 21









