Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/11/2006 15:25 (GMT+7)

“Bài học Việt Nam”

G.Ford là người kế nhiệm R.Nixon vị tổng thống đã phải từ chức sau vụ bê bối Watergate và ai cũng biết cặp bài trùng cùng tổng thống Mỹ trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam chính là Henri Kissinger, Cố vấn an ninh của Nhà Trắng, là người thiết kế chiến lược toàn cầu trong đó có mục tiêu “rút lui trong danh dự” đối với cuộc Chiến tranh Việt Nam. Đó là lý do vì sao, G.Ford đã yêu cầu H.Kissinger phải tư vấn cho mình “một bài học về Việt Nam ” để giải thích với dư luận.

Văn bản tư vấn đã được H.Kissinger soạn thảo dưới hình thức một “bản ghi nhớ” kèm theo dòng chữ “bí mật” (bị gạch xoá), “nhạy cảm” và “trình riêng” ghi rõ địa chỉ gửi tới: “Tổng thống”, người gửi “Henry A. Kissinger” và vấn đề “Bài học Việt Nam ”. Những tài liệu này về sau mới được công bố trong cuốn sách “Không hoà bình, chẳng danh dự. Nixon, Kissinger và sự phản bội ở Việt Nam” của Larry Berman xuất bản năm 2001 và được Nguyễn Mạnh Hùng dịch ra Việt ngữ năm 2003 do Việt Tide xuất bản. (Nhân dân xin cảm ơn ông L. Berman đã tặng tôi ấn phẩm này khi có dịp sang thăm Việt Nam , 2004).

“Bài học Việt Nam” mà H.Kissinger, người một thời được coi là bộ óc thông thái nhất hoàn cầu viết ngay sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam vừa kết thúc, là một sự thú nhận thất bại nặng nề của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng cũng cố gài vào đó một vài quan điểm nhằm bào chữa cho những sai lầm và trách nhiệm của chính mình với tư cách là một quân sư hàng đầu của Tổng thống R.Nixon. Xin giới thiệu với bạn đọc văn bản này làm tư liệu tham khảo.

DTQ giới thiệu

Theo lời yêu cầu của Tổng thống tôi đã chuẩn bị một số ý kiến về “Bài học Việt Nam ” để ngài cứu xét và dùng làm dữ kiện căn cứ để trả lời những câu hỏi của báo chí về vấn đề này trong tương lai.

Điều đáng kể là, tuy cuộc chiến kéo dài trong nhiều năm, được tường thuật và thảo luận sôi nổi như thế, mà chúng ta cũng chẳng rút ra được bao nhiêu bài học về kinh nghiệm Việt Nam có thể áp dụng tại nơi khác, mặc dầu việc cố rút ra bài học Việt Nam là một điều hấp dẫn. Việt Nam là một trường hợp độc đáo về phương diện địa dư, chủng tộc, chính trị, quân sự và ngoại giao. Có lẽ chúng ta phải hiểu rõ điều đó và phải công nhận sự thật này thay vì cố áp dụng “bài học Việt Nam” một cách phổ quát như có thời chúng ta đã cố áp dụng “bài học Munich”.

Về phương diện bình luận và lượng giá, sự ấm ức thật sự về Việt Nam có thể là, tuy cuộc chiến có hậu quả gần như phổ quát nhưng nó lại không cho ta một cẩm nang phổ quát để giải quyết vấn đề tương tự.

Điều mà các bình luận gia thường ưu làm là rút ra những kết luận về sự thiếu kiên trì của người Mỹ và sự thất bại tối hậu của ý chí chúng ta. Nhưng tôi thắc mắc là liệu chúng ta có thể chấp nhận được kết luận ấy không. Đó là cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh ở xa nhất, ít liên hệ rõ rệt nhất đến những quan tâm cần thiết của nước ta, nhưng nhân dân Hoa Kỳ vẫn ủng hộ sự can dự của chúng ta và các mục tiêu tổng quát của sự can dự ấy cho đến phút chót. Nhân dân Hoa KỲ đã chấp nhận những hy sinh to lớn. Tôi tin rằng, ngay cả đến phút chót, họ vẫn sẵn sàng ủng hộ một chính sách cứu được Nam Việt Nam nếu chúng ta có lựa chọn đó.

Quân Mỹ lên máy bay về nước tại Tân Sơn Nhất - Sài Gòn

Quân Mỹ lên máy bay về nước tại Tân Sơn Nhất - Sài Gòn

Đừng quên rằng quyết định của nhiều chính quyền Mỹ kế tiếp nhau đem quốc gia này can dự vào cuộc chiến đã được nhiều người ủng hộ khi có những quyết định ấy, và nó được ủng hộ không những bởiđông đảo quần chúng mà còn bởi các phần tử chính trị và các nhà báo sau này mới chống lại chiến tranh. Nhân dân Hoa Kỳ, nói chung, đã ủng hộ và hoan hô Tổng thống Eisenhower khi ông quyết định chiađôi Việt Namvà ủng hộ một chính quyền chống Cộng ở miền Nam . Nhân dân Hoa Kỳ, nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, ủng hộ Tổng thống Kennedy khi ông quyết định vượt quá những giới hạn mà Tổng thốngEisenhower đã đặt ra cho sự can dự của Hoa Kỳ và họ cũng ủng hộ quyết định của ông cho phép Hoa Kỳ và họ cũng ủng hộ quyết định của ông cho phép Hoa Kỳ can dự vào việc lật đổ Tổng thống Diệm - mặc dùmức độ của sự can dự ấy lúc đó không rõ rệt. Nhiều người sau này mang nhãn hiệu “bồ câu” về cuộc chiến tranh Việt Nam lúc ấy đã đòi hỏi rằng phải cứu Việt Nam và cần phải lật đổ Tổng thống Diệm đểcứu Nam Việt Nam. Chính ngài hẳn còn nhớ rằng quyết nghị Vịnh Bắc Bộ đã được Quốc hội ủng hộ mạnh mẽ và quyết định gửi quân sang Việt Nam của Tổng thống Johnson cũng được nhiều người ủng hộ. Tổngthống Nixon đã được ủng hộ nồng nhiệt trong quyết định rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam một cách tuần tự và ký kết Hiệp định Hoà Bình Ba Lê.

Nếu có thể đề nghị những đường lối chỉ đạo cho tương lai về bài học rút ra về sự hậu thuẫn trong nước đối với chính sách ngoại giao, người ta có thể nói rằng các nhóm chính trị Hoa Kỳ sẽ không thể giữ lâu được một lập trường đi ngược lại với thái độ truyền thống của họ. Những người có khuynh hướng tự do trong đảng Dân chủ không thể ủng hộ lâu dài một cuộc chiến tranh chống lại một phong trào cách mạng, bất kể tính cách phản động trong chiến thuật của phong trào ấy ở trong nước. Họ chấp nhận sự cam kết quan trọng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam vì tình đối với Tổng thống Kennedy, mà họ coi là người lãnh đạo họ, nhưng họ đã rút lại sự ủng hộ này dưới thời Tổng thống Johnson.

Tuy nhiên, một bài học rõ rệt có thể rút ra là sự quan trọng của sự thành thật và khách quan tuyệt đối trong mọi báo cáo trong chính phủ với nhau và từ phía chính phủ cũng như từ phía báo chí. Trong một thời gian dài, những báo cáo chính thức của Hoa Kỳ thường quá lạc quan, với hậu quả là những tuyên bố của chính phủ không cho nhân dân Hoa Kỳ biết rõ cuộc chiến có thể kéo dài và khó khăn đến mức nào. Sau một thời gian, những tường thuật bi quan của báo chí bắt đầu được tin hơn vì những kết quả tích cực xuất hiện quá chậm để biện minh cho những lượng giá lạc quan của Hoa Thịnh Đốn. Tại Việt Nam, tình hình thường tệ hơn là một số báo cáo và tốt hơn một số báo cáo khác. Nhưng những báo cáo bi quan, dù chúng sai lạc, cũng bắt đầu được coi như sát sự thật hơn cho đến khi hầu hết bất cứ một tuyên bố nào của chính phủ cũng bị coi là thiên lệch, không những bởi những người chống đối mà còn bởi một quần chúng ngày càng hoài nghi hơn.

Một bài học khác là sự quan trọng tuyệt đối phải tập trung các nhận xét của chúng ta vào cuộc thảo luận công khai vào những điểm chính – dù những điểm chính ấy không được thấy rõ mỗi đêm trên màn ảnh truyền hình. Cuộc thảo luận về Việt Nam thường trở thành sự mê hoặc với các vấn đề mà nhiều nhất cũng chỉ có tính cách thứ yếu. Những “chuồng cọp” được coi như biểu tượng của sự đàn áp của chính phủ Nam Việt Nam, mặc dù chính phủ ấy đang phải đối phó với một kẻ địch đã ám sát, hành hạ và bỏ tù một số người lớn hơn gấp bội; chương trình “Phượng Hoàng” trở thành một mục tiêu đả kích mặc dù chiến thuật của Bắc Việt và của Việt Cộng còn tàn ác hơn nhiều. Vũ Mỹ Lai bêu xấu hình ảnh một Quân đội Hoa Kỳ thường hay - chứ không phải là luôn luôn - tỏ ra có lòng thương người khi đối xử với thường dân vô tội. Và đến lúc chót, phần lớn các cuộc thảo luận công khai đã tập trung vào sự thất bại của Tổng thống Thiệu là không thu phục được hậu thuẫn chính trị, nhưng chính Cộng sản là những người đã bác bỏ các cuộc bầu cử tự do và đem vào Nam các sư đoàn trù bị của họ vì họ không có hậu thuẫn của quần chúng. Và ở trong nước, người ta lập luận rằng yêu cầu viện trợ của Tổng thống đồng nghĩa với sự tái can dự của Hoa Kỳ [vào Việt Nam] trong khi Tổng thống không hề nghĩ đến việc ấy.

Trung thành với tính nhất quán có thể là điều quan trọng không kém. Khi Hoa Kỳ tham dự vào cuộc chiến trong thập niên 1960, Hoa KỲ đã can dự một cách quá đáng khiến cho không những nó đã chấm dứt sự nghiệp và cuộc đời của một nhà lãnh đạo một quốc gia đồng minh mà còn có thể đã gây ra những tổn hại trầm trọng cho nền kinh tế Hoa Kỳ và đã đổ hơn nửa triệu quân vào một quốc gia nơi chúng ta chưa bao giờ có trên 100.000 người thực sự tác chiến. Cuối cùng, những thái quá trong chiều hướng ngược lại đã khiến chúng ta không thể xin được Quốc hội cấp cho khoảng 2 hay 3 phần trăm số tiền mà trước kia hàng năm Quốc hội đều chuẩn chi. Khi chúng ta tham dự vào cuộc chiến, nhiều người đã viện dẫn lý do đạo đức để biện minh cho sự tham dự ấy. Trước khi cuộc chiến chấm dứt, nhiều người chống lại nó vì lý do đạo đức. Nhưng không ai nói đến đạo đức của sự nhất quán, hay đến ưu điểm của việc đi đến cùng một khi phí tổn của sự tham dự đã được giảm đến mức có thể chịu đựng nổi.

Về phương diện chiến thuật quan sự, chúng ta không thể không kết luận rằng quân đội của chúng ta không thích hợp với loại chiến tranh này. Ngay cả Lực lượng Đặc Biệt đã được huấn luyện để làm việc này cũng không thể đánh thắng được. Điều này một phần vì bản chất của cuộc chiến tranh. Nó vừa là một cuộc chiến tranh cách mạng đánh nhau bằng dao ở trong làng trong đêm tối. Nhưng nó cũng là một cuộc chiến tranh của quân chủ lực trong đó kỹ thuật có thể ảnh hưởng quyết định. Cả hai bên đều gặp khó khăn trong việc tìm chiến thuật thích hợp cho mỗi loại chiến tranh. Nhưng chúng ta và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này hơn là phe bên kia. Ở đây, chúng ta cũng bị khó khăn vè những thái quá: khi chúng ta biến chiến tranh thành cuộc “chiến tranh của chúng ta”, chúng ta không để cho người Nam Việt Nam chiến đấu; nhưng sau này khi nó trở thành cuộc “chiến tranh của họ” chúng ta lại không chịu giúp họ chiến đấu. Mỉa mai thay, chúng ta chuẩn bị Nam Việt Nam cho loại chiến tranh quy ước sau năm 1954 (vì dự đoán sẽ có một cuộc tấn công kiểu Triều Tiên), và họ đã phải đương đầu với một cuộc chiến tranh chính trị; họ đã tự chuẩn bị cho loại chiến tranh chính trị sau năm 1973 để rồi phải đương đầu với cuộc xâm lăng của chủ lực quân 20 năm sau khi loại chiến tranh đó được dự đoán.

Nền ngoại giao của chúng ta cũng bị thiệt hại trong tiến trình đó, và chúng ta cần phải có một thời gian mới phục hồi được. Chúng ta thường thấy Hoa Kỳ không thể duy trì một lập trường ngoại giao lâu hơn vài tuần hay vài tháng trước khi nó bị đả kích bởi chính những phần tử chính trị trước kia đã cổ vũ cho lập trường ấy. Cuối cùng, chúng ta lại phải thương thuyết với chính chúng ta, liên tục làm hết nhương bộ này đến nhượng bộ khác trong khi Bắc Việt không thay đổi một chút nào mục tiêu ngoại giao của họ và thay đổi rất ít trong lập trường ngoại giao của họ. Chỉ trong lúc điều đình bí mật chúng ta mới có thể đến gần được một cuộc đối thoại chân chính, và ngay cả trong trường hợp này Bắc Việt vẫn có thể làm cho chúng ta phải liên tục chịu áp lực của công chúng. Ngoại giao của chúng ta, vì thế, thường bị hạ xuống thành những cố gắng hốt hoảng để tìm những phương thức đem lại cho ta sự hậu thuẫn nhất thời và sao lãng những khác biệt rõ rệt giữa chúng ta và Bắc Việt. Di sản của điều này còn ám ảnh chúng ta khiến chúng ta khó duy trì được một lập trường ngoại giao trong một khoảng thời gian nào đó mà không bị chỉ trích từ trong nội bộ, bất kể kẻ thù của chúng ta ngoan cố đến bao nhiêu.

Cuối cùng, chúng ta phải tự hỏi liệu tất cả những cố gắng của chúng ta có đáng không, hay ít nhất chúng ta đã được lợi cái gì. Tôi tin rằng có nhiều điều lợi, tuy từ lâu chúng không được đếm xỉa đến, và tôi sợ rằng bây giờ chúng ta mới bắt đầu nhận thức rằng chúng ta cần phải củng cố vị thế của chúng ta ở những nơi khác một khi chỗ đứng của chúng ta ở Việt Nam bị mất. Chúng ta có thể bị bó buộc phải ủng hộ mạnh mẽ hơn những tình trạng khác để sửa chữa những tổn hại và phải lấy những lập trường cứng rắn hơn để cho những người khác có thể lại tin tưởng được ở chúng ta.

Tôi luôn luôn tin, cũng như nhiều quan sát viên khác, rằng quyết định cứu Nam Việt Nam của chúng ta năm 1965 đã tránh cho Nam Dương rơi vào tay Cộng sản và có lẽ đã bảo vệ được sự hiện diện của chúng ta ở Á Châu. Điều này có nghĩa là không những chúng ta đã giữ quân đội ở đó. Nó còn có nghĩa là chúng ta duy trì được sự hiện diện kinh tế cũng như ảnh hưởng chính trị, và các quốc gia bạn - kể cả Nhật Bản - không cảm thấy họ phải tự lo bảo vệ lấy mình. Khi chúng ta xét đến ảnh hưởng của những gì đang xảy ra, chúng ta cần nhớ rằng mười năm trước ảnh hưởng ấy có thể lớn như thế nào khi phong trào Cộng sản còn được nhiều người coi như một khối nhất nguyên chắc chắn sẽ nhấn chìm tất cả chúng ta. Vì thế, trong những lời tuyên bố công khai của chúng ta, tôi tin rằng chúng ta có thể ngửa cao mặt mà không phải tự hành hạ chúng ta và chúng ta không nên coi vai trò của chúng ta trong cuộc chiến tranh ấy như một thảm hoạ ô nhục. Tôi tin rằng những cố gắng của chúng ta, về phương diện quân sự, ngoại giao và chính trị, không phải là vô ích. Chúng ta đã trả một giá đắt nhưng chúng ta mua được thời gian mười năm và chúng ta đã thay đổi được cái mà lúc đó tưởng như một động lượng không thể cưỡng được. Tôi tin rằng quân đội và nhân dân của chúng ta chẳng có lý do gì phải xấu hổ.

Nguồn: T/c Xưa & Nay, số 258, 4/2006, tr 21

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.