Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 22/11/2013 22:28 (GMT+7)

Bài báo khoa học quốc tế: Quá hiếm

Nguyên nhân khiến Việt Nam ít bài báo khoa học quốc tế chính là việc không định hướng yêu cầu đối với trách nhiệm của nhà khoa học là phải có các kết quả nghiên cứu cụ thể” - PGS Phạm Bích San, Phó Tổng Thư ký Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, nhận định. Hiện GS, PGS, TS nước ta nhiều nhất Đông Nam Á nhưng số lượng các bài báo công bố quốc tế chỉ bằng 1 trường ĐH của Thái Lan.

Theo thống kê, năm 2012, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1.630 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, chỉ bằng 30% của Thái Lan, 22% của Malaysia và 17% của Singapore. Điều này cho thấy năng suất khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn so với con số 9.500 GS, PGS và 24.000 TS (thời điểm năm 2012).

Theo GS Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, qua phân tích các công bố quốc tế của Việt Nam và 11 nước Đông Á cho thấy chất lượng các bài báo (dựa trên chỉ số trích dẫn trung bình) của Việt Nam còn thấp, nhiều ngành trực tiếp liên quan đến quốc kế dân sinh chưa có công bố quốc tế và phần lớn đồng tác giả Việt Nam không đóng vai trò chính trong các công trình. Số công trình do nội lực chỉ chiếm 30%, vào loại thấp nhất khu vực, so với 90% ở Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.

Lý giải về việc nền khoa học Việt Nam ít có bài báo khoa học quốc tế, GS Vũ Minh Giang - chuyên gia cao cấp, nguyên Phó Giám đốc ĐHQG Hà Nội - cho rằng trong một thời gian dài, các công trình khoa học được đầu tư xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề chứ chưa quan tâm đến sản phẩm cuối cùng. Khi nghiệm thu xong, hoàn thành nhiệm vụ mô tả, hội đồng tổng kết công trình rất tốt nhưng chẳng để làm gì.

“Có những đề tài kiểu “đường đi con kiến thế nào” cũng được cho rằng có ý nghĩa rất cao” - GS Giang nêu thực trạng. Chính vì chỉ quan tâm đến ý nghĩa khoa học mà không quan tâm đến sản phẩm đầu ra nên đã tạo ra rất nhiều sản phẩm “ngăn kéo”, xếp đấy mà không biết dùng vào việc gì.

Theo GS Giang, điều kiện làm việc của các nhà khoa học Việt Nam chưa đủ tầm để thường xuyên có được những bài báo quốc tế. ĐH Singapore có số bài báo khoa học quốc tế rất nhiều vì điều kiện đầu tư của họ hơn gấp 200 lần so với ĐHQG Hà Nội. GS Giang cho rằng hiện cơ chế tài chính trong nghiên cứu khoa học rắc rối, thoát ly thực tế và không phù hợp với đặc thù nghiên cứu khoa học.

“Những người quản lý tài chính luôn sợ những người làm khoa học lấy mất tiền nên không quan tâm đến sản phẩm khoa học mà chỉ quan tâm việc tiền có tiêu đúng quy định mà họ đưa ra hay không. Trong khi đó, việc làm sao kiếm được đầy đủ hóa đơn tài chính với nhà khoa học còn mệt hơn việc hoàn thành nhiệm vụ khoa học của họ” - GS Giang nói.

TS Trần Văn Đô - cán bộ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, hiện đang làm việc tại Viện Nghiên cứu lâm nghiệp và lâm sản Nhật Bản - cho rằng hạn chế lớn của khoa học Việt Nam là cơ chế xin- cho. Muốn làm gì cũng phải có đề cương, qua nhiều cửa khác nhau mới có kinh phí, mà khoản dành cho công trình nghiên cứu rất nhỏ. Như vậy, rất khó để có công trình chất lượng đăng báo quốc tế.

Theo một nghiên cứu năm 2011, Việt Nam xếp thứ 67/238 nước và vùng lãnh thổ về số sách, báo xuất bản trong năm. Tuy nhiên, các bài báo xuất bản trên các tạp chí nước ngoài chủ yếu là do những người mang quốc tịch Việt Nam đang làm việc ở các nước khác viết. Trong khi đó, lúc họ về Việt Nam công tác thì lại không có bài báo nào đăng trên tạp chí quốc tế nữa.

“Môi trường nghiên cứu ở Việt Nam khác xa các nước phát triển nên người làm việc không đạt kết quả tốt để đăng báo nước ngoài. Thêm vào đó, kinh phí của chúng ta hạn hẹp, ít tập trung vào nghiên cứu cơ bản - lĩnh vực mà hầu hết các tạp chí uy tín trên thế giới chấp nhận bài để đăng” - TS Đô cho biết.

GS Vũ Đình Giang cho rằng các nhà khoa học của Việt Nam không kém, nhiều người ra nước ngoài có những mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp giỏi trên thế giới và đã viết rất nhiều bài báo quốc tế. Vấn đề quan trọng là môi trường, điều kiện và cơ chế quản lý phải được cải thiện.

Theo PGS-TS Huỳnh Quyền, Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ lọc hóa dầu - Trường ĐH Bách khoa TP.Hồ Chí Minh: “Đa số các nghiên cứu khoa học trong các trường ĐH tại Việt Nam chưa tiếp cận được với các đề tài, số liệu nghiên cứu có tính chất quốc tế nên rất khó có các bài báo quốc tế. Hầu hết các nghiên cứu khoa học mang tính chất đối phó. Các bài báo được công bố quốc tế đòi hỏi các nghiên cứu phải rất chuyên sâu, mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của chúng ta chưa đủ tầm thực hiện.

Ngoài ra, cán bộ nghiên cứu của chúng ta ít có điều kiện tiếp cận với các hội thảo, số liệu nghiên cứu khoa học của quốc tế để có thể triển khai các đề tài phù hợp và tầm cỡ. Do đó, chất lượng các nghiên cứu của chúng ta hiện nay chưa theo kịp hoạt động nghiên cứu khoa học quốc tế”.

Bà Trương Thùy Trang, nguyên Phó Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP.Hồ Chí Minh nhìn nhận: “So với mặt bằng chung ở khu vực ASEAN hiện nay thì Việt Nam đang nằm trong nhóm các quốc gia đạt mức thấp hơn mức trung bình trong việc công bố các bài báo quốc tế.

Dù khung pháp luật của chúng ta đã hoàn chỉnh, thậm chí thuận lợi hơn nhiều quốc gia khác nhưng khi triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học thì không hiệu quả. Đây chính là điểm khúc mắc cần giải quyết nếu muốn tăng số lượng các bài báo, sáng chế được công bố quốc tế”.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.