Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 22/07/2005 14:30 (GMT+7)

Ao nuôi tôm sú ở vùng cát ven biển

Hiện nay các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế mùa vụ nuôi tôm trên cát được bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, còn các tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, vụ I bắt đầu nuôi từ tháng 2 đến tháng 6, vụ II từ tháng 7 đến tháng 11 (tính theo tháng dương lịch).

Để giúp các cơ sở đang có quy hoạch xây dựng ao nuôi tôm trên nền cát, xin giới thiệu một số kinh nghiệm về xây dựng ao, rút ra từ kết quả hội thảo “ Nuôi tôm trên cát các tỉnh miền Trung”thời gian vừa qua.

Đặc điểm xây dựng ao nuôi:

+ Xây dựng ao ở nơi có nguồn nước (lợ hoặc mặn và nước ngọt) cấp chủ động trong quá trình nuôi. Nguồn nước sạch, không bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp, nông nghiệp, nước thải sinh hoạt, v.v... Chất lượng nước phải bảo đảm các chỉ tiêu về môi trường như sau:


Độ mặn nước biển

Độ trong

Oxy hoà tan

Độ kiềm (CaCO 3)

NH 3

H 2S


15-30 phần nghìn

40-50cm

³5mg/lpH7,5-8,5

80-140mg/l

<0,1mg/l

<0,02mg/l

Nếu sử dụng nước ngọt ngầm, phải được quy hoạch và tính toán kỹ nhu cầu sử dụng trong quá trình nuôi và được cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp phép sử dụng. Vùng cát ven biển có hạ tầng yếu, nếu lạm dụng quá mức nước ngầm ngọt sẽ gây đến sụt lún địa tầng khu vực. Đồng thời nước ngầm bị cạn kiệt gây đến mất cân bằng áp lực, tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập từ biển vào gây mặn hóa nước ngầm ngọt. Theo kinh nghiệm việc tính toán nhu cầu nước sử dụng có thể dựa vào phương pháp như sau:

Giả sử diện tích nuôi tôm là 1ha, mực nước trong ao ổn định trong quá trình nuôi là 1,4m, chu kỳ nuôi một vụ là 4 tháng.

- Lượng nước cho 1ha ao nuôi một vụ là 14.000m 3

- Cứ hai tuần phải cấp bổ sung nước một lần, mỗi lần bằng 20% khối lượng nước trong ao, lượng nước cấp bổ sung cho một chu kỳ nuôi là: 14.000m 3 x 20% x 8 lần = 22.400m 3

- Lượng nước dự phòng cấp cho ao khi có sự cố bằng 50% khối lượng nước trong ao: (14.000m 3 + 22.400m 3 ) 50% = 18.200m 3

Như vậy, nhu cầu nước cho một ao nuôi một vụ sẽ là: 14.000m 3 + 22.400m 3 + 18.200m 3 = 54.600 m 3 . Trong đó có từ 30 đến 40% là nước ngọt.

Dựa vào cách tính này đối chiếu với trữ lượng nước đã thăm dò (nhất là nước ngọt) sẽ định ra được quy mô diện tích phát triển nuôi phù hợp.

+ Ao nuôi tôm phải được xây dựng ở vị thế thuận lợi về lưới điện quốc gia, giao thông thuỷ, bộ.

+ Tuyệt đối không xây dựng ao nuôi tôm trên cát ở vùng có rừng phòng hộ. Đồng thời song song với việc xây dựng ao phải trồng cây chắn gió để bảo vệ công trình nuôi ổn định.

Những yêu cầu kỹ thuật đối với hệ thống ao nuôi tôm sú ở vùng cát ven biển:

Ao nuôi tôm trên nền cát phải được xây dựng tạo thành khu ao liên hoàn gồm: Ao nuôi, ao chứa lắng, hệ thống cấp nước và hệ thống xử lý chất thải.

+ Ao nuôicó diện tích mặt nước thích hợp từ 0,4-0,5ha cho một ao, mực nước trong ao ổn định từ 1,3m trở lên. Ao xây dựng có dạng hình vuông, bốn góc ao uốn theo hình tròn để tạo được dòng nước lưu thông trong ao khi vận hành máy quạt nước. Bờ ao ngăn ô, mặt bờ rộng 2-2,5m, bờ ao trục chính mặt bờ rộng 4-5m để thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư thiết bị, thức ăn con giống, mũi bờ ao có hệ số 1/1 hoặc 1/1,2 vừa chống được sụt lở lại dễ dàng lót màng chống thấm.

Đáy ao nuôi và bờ được trải lót màng chống thấm bằng tấm tarpaulin hoặc dùng loại HDPE và được phủ lên trên một lớp cát mịn dày 40cm để giữ cho màng chống thấm có mặt phẳng ổn định, đồng thời hạn chế bức xạ của mặt trời tới màng chống thấm.

+ Ao chứa lắngđặt ở nơi thuận tiện cấp nước biển vào và dẫn nước từ ao lắng đến ao nuôi. Diện tích ao chiếm từ 20-25% tổng diện tích mặt nước nuôi tôm. Ao sâu từ 1,5m trở lên và cũng được lót màng chống thấm và cát mịn như ao nuôi. Nước từ biển cấp cho ao chứa lắng qua hệ thống lọc thô và lọc tinh. Nước từ ao chứa lắng trước khi cung cấp cho ao nuôi phải được làm sạch và xử lý môi trường bằng các chế phẩm sinh học thích hợp để diệt các vật chủ trung gian mang mầm bệnh cho tôm.

+ Hệ thống cấp nước:Nước biển vào ao chứa lắng bằng hệ thống bơm và được dẫn qua đường ống nhựa hoặc mương bê tông có khẩu độ thích hợp tùy theo quy mô nuôi.

+ Hệ thống xử lý nước thải:Theo tính toán, 1ha nuôi tôm công nghệ cao (40 con/m­ 2), một vụ nuôi sẽ thải ra 8 tấn chất thải rắn gồm: vỏ tôm (khi tôm lột vỏ), thức ăn dư thừa và hàng chục ngàn mét khối nước thải khác. Chất thải trước khi ra ngoài phải được xử lý trong bể chứa hoặc bãi chứa riêng. Bể chứa nước thải chiếm từ 10-15% diện tích ao nuôi và được đặt ở vị trí thích hợp trong khu hệ ao nuôi.

Nguồn: KH&ĐS số 26 (1744), ngày 01/4/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.