Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 16/06/2011 20:46 (GMT+7)

Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Lóc đen ương nuôi trong bể Composite

I.Đặt vấn đề

Cá lóc đen ( Channa Striata) là đối tượng có giá trị kinh tế được nuôi nhiều ở Việt Nam và Đông Nam Châu Á. Cá có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của môi trường (nước tù, đục, nóng…) và có thể sống trong nước nhiệt độ cao đến 39-40 OC [4]. Thêm vào đó cá lóc có chất lượng thịt thơm ngon nên rất có giá trị kinh tế và ngày càng được người nuôi thủy sản ưa chuộng.

Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôi khác nhau. Phổ biến ở Thái Lan, Hồng Kông là mô hình nuôi bán thâm canh trong ao đất với thời gian nuôi từ 6-7 tháng với các loại thức ăn như bột cá, tấm, cám. Mô hình nuôi cá bè với mật độ 20-40 con/m3, sử dụng các loại thức ăn như cá tạp, tấm… phổ biến ở Việt Nam , Campuchia. Ở nước ta, nghề nuôi cá lóc nói chung và cá lóc đen nói riêng ngày càng phát triển, tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ…); Đông Nam Bộ và một số tỉnh khác [3]. Tuy nhiên, nguồn giống thả nuôi hiện nay chủ yếu dựa vào tự nhiên. Nhược điểm của nguồn giống này là kích thước không đồng đều, thường bị xây xát trong quá trình đánh bắt, vận chuyển nên dễ mắc bệnh. Hiện nay, nguồn giống cá lóc đen ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức nên không đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng cho người nuôi trong khi nhu cầu con giống ngày càng cao. Con giống sản xuất nhân tạo có thể khắc phục được những nhược điểm trên. Việc sản xuất thành công giống nhân tạo có ý nghĩa rất quan trọng vì nó giúp ích rất nhiều trong công việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên cũng như thuần hóa trở thành đối tượng nuôi đem lại giá trị kinh tế [2]. Tuy nhiên, việc tìm được mật độ nuôi thích hợp trong quá trình ương nuôi cá nhằm đem lại hiệu quả cao lại đang gặp nhiều khó khăn. Trước thực tế đó, việc tìm ra mật độ nuôi thích hợp để ương nuôi cá đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần chủ động con giống cho nhu cầu nuôi ngày càng cao của người dân và thúc đẩy ngành thủy sản phát triển là rất cần thiết.

II. Phương pháp nghiên cứu

Cá 40 ngày tuổi được tiến hành ương nuôi trong bể composite có thể tích 1m 3với thời gian thí nghiệm là 60 ngày. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 mật độ khác nhau tương ứng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần: mật độ 1 (MĐ 1) 150 con/bể; mật độ 2 (MĐ 2) 200 con/bể; mật độ 3 (MĐ 3) 250 con/bể.

Cá được cho ăn 2 lần/ngày, lượng thức ăn cho ăn bằng 10% trọng lượng cá trong bể. Thức ăn sử dụng là cá tạp nước mặn để hạn chế lây bệnh. Ở giai đoạn đầu, thức ăn được xay nhỏ cho phù hợp với cỡ miệng của cá.

Trước khi bố trí thí nghiệm, cá được xác định khối lượng trung bình bằng cách cân tổng khối lượng cá và cân từng con (50 con) để tính trung bình khối lượng cá ở mỗi bể. Tăng trưởng của cá được xác định 10 ngày/lần qua chiều dài và khối lượng của 30 cá thể ở mỗi đợt thu mẫu. Khối lượng từng cá thể của 50 cá thể và tổng khối lượng cá ở mỗi bể được xác định khi kết thúc thí nghiệm. Tỉ lệ sống của cá trong từng bể cũng được xác định khi kết thúc thí nghiệm.

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (g/con và cm/con) và tốc độ tăng trưởng đặc trưng SGR (%/ngày) và tỷ lệ sống của cá ở các thí nghiệm.

III. Kết quả nghiên cứu

1. Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm

Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ, pH được theo dõi thường xuyên. Nhiệt độ trung bình ở các công thức tương đối ổn định, sự chênh lệch không đáng kể, dao động từ 29,70-29,74 OC, nhiệt độ biến thiên trong khoảng 25-33 OC và không có sự sai khác nhiều giữa các lô thí nghiệm, chủ yếu do các bể thí nghiệm được đặt trong nhà nên luôn duy trì được sự ổn định. Như vậy, nhiệt độ nước bể nuôi của thí nghiệm phù hợp với sinh trưởng phát triển của cá lóc đen.

Giá trị pH trong các bể thí nghiệm biến động nhỏ theo thời gian trong ngày và tương đối đều trong suốt thời gian thí nghiệm. Mặt khác, do thí nghiệm thực hiện trong nhà nên giá trị pH cũng không quá cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pH trong suốt quá trình thí nghiệm đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá lóc đen (7,3-7,9) và không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng cũng như tỷ lệ sống của cá.

2. Tăng trưởng của cá lóc đen giai đoạn từ cá hương lên cá giống

2.1. Tăng trưởng về kích thước

Cá lóc đen khi bố trí thí nghiệm có chiều dài trung bình 6,04 cm/con. Sau 60 ngày, giá trị này đạt cao nhất ở nghiệm thức MĐ 1 (11,07cm) sau đó đến nghiệm thức MĐ 2 (10,58cm) và thấp nhất là nghiệm thức MĐ 3 (10,40cm).

Tốc độ tăng trưởng (TĐTT) bình quân ngày và TĐTT đặc trưng về chiều dài của cá khi thí nghiệm kết thúc đều cao nhất ở MĐ 1 (ADG đạt 0,084 cm/ngày; SGR đạt 1,009 %/ngày); tiếp theo là MĐ 2 (ADG đạt 0,076 cm/ngày; SGR đạt 0,934 %/ngày); thấp nhất là MĐ 3 (ADG đạt 0,073 cm/ngày; SGR đạt 0,905 %/ngày).

Kết quả phân tích thống kê cho thấy chiều dài trung bình, TĐTT bình quân ngày và TĐTT đặc trưng của cá lóc đen sau 60 ngày ương có sự khác biệt giữa các nghiệm thức khi ương ở các mật độ khác nhau (P < 0,05). Như vậy, mật độ ương khác nhau có ảnh hưởng đến tăng trưởng về chiều dài thân của cá.

a. TĐTT bình quân ngày về chiều dài của cá lóc đen

Kết quả thu được cho thấy có sự sai khác giữa các mật độ thí nghiệm. Khi tiến hành phân tích ANOVA một nhân tố thì thấy ở các giai đoạn 0-10, 10-20, 30-40, 40-50 ngày ương, sự sai khác về TĐTT bình quân ở 3 mật độ ương là không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05), những lần kiểm tra còn lại (20 - 30 và 50 60 ngày ương) đều có sự sai khác nhau về ý nghĩa thống kê (P < 0,05).

Cá đạt TĐTT bình quân ngày cao nhất về chiều dài của cả 3 mật độ đều ở giai đoạn 30-40 ngày ương, cao nhất là MĐ 2 và MĐ 3 đạt 0,14 cm/ngày, MĐ 1 thấp hơn đạt 0,12 cm/ngày. Thực tế thí nghiệm cho thấy, cá ở MĐ 1 có sự đồng đều hơn so với 2 mật độ còn lại.

Ở giai đoạn 40-50 ngày ương, cả 3 mật độ đều có TĐTT tuyệt đối thấp nhất, MĐ 2 và MĐ 3 đạt 0,04 cm/ngày, MĐ 1 đạt 0,03 cm/ngày. Nguyên nhân chủ yếu do ở giai đoạn này nguồn nước bị nhiễm bẩn, hệ thống lắng lọc của cơ sở lại không đạt yêu cầu nên nước cấp vào bể ương bị ảnh hưởng. Mặt khác, giai đoạn này cá tương đối lớn, lại ương ở mật độ cao nên dẫn tới hiện tượng cá bị strees, kém ăn hơn các giai đoạn khác.

b. TĐTT đặc trưng về chiều dài của cá lóc đen

Kết quả theo dõi SGR về chiều dài của cá cho thấy, TĐTT đặc trưng của cá ở các mật độ thí nghiệm có sự khác nhau. Tuy nhiên, các giai đoạn 1-10, 10-20, 40-50 ngày ương thì sự sai khác là không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05), các giai đoạn 20-30, 30-40, 50-60 ngày ương thì sự sai khác về TĐTT đặc trưng về chiều dài giữa các mật độ ương với nhau là có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).

Về biên độ dao động giữa mức tăng trưởng thấp nhất và mức cao nhất: MĐ 3 và MĐ 2 có khoảng biến động gần như nhau (MĐ 3 từ 0,42-1,69%, MĐ 2 từ 0,42 - 1.67%) và lớn hơn MĐ 1 (từ 0,33-1,32%).

Như vậy, các mật độ ương khác nhau đã có các tác động khác nhau đến TĐTT đặc trưng của cá.

TĐTT đặc trưng của các mật độ nhìn chung không đều qua các giai đoạn ương. Giai đoạn 0-10 ngày và 30-40 ngày cao hơn các giai đoạn còn lại. Trong 2 giai đoạn này, các mật độ đạt SGR cao nhất trong cả quá trình thực hiện thí nghiệm, cụ thể MĐ 1 là 1,32 %/ngày; MĐ 2 là 1,67 %/ngày; MĐ 3 là 1,69 %/ngày.

Cũng tương tự như TĐTT bình quân ngày, ở giai đoạn 40-50 ngày ương, TĐTT đặc trưng của cả 3 mật độ thí nghiệm thấp nhất, MĐ 1 chỉ đạt 0,33 %/ngày và MĐ 2 , MĐ 3 là 0,42 %/ngày.

2.2. Tăng trưởng về khối lượng

Giai đoạn này nhìn chung cá ở các nghiệm thức đều tăng trưởng tương đối tốt, từ cỡ thả trung bình 1,86 g/con, sau 60 ngày nuôi cá có tăng trung bình dao động từ 10,33-11,33 g/con, TĐTT bình quân ngày (ADG) từ 0,14-0,14 g/con/ngày và TĐTT đặc trưng (SGR) từ 2,86-2,98 %/ngày. Khối lượng trung bình của cá lóc đen khi ương nuôi ở các mật độ khác nhau có TĐTT khác nhau, khối lượng trung bình của cá khi ương ở MĐ 1 (11,03 g/con) cao hơn khối lượng cá ương ở MĐ 2 (10,51 g/con), MĐ 3 (10,33 g/con) và có sự sai khác có ý nghĩa (P < 0,05).

Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm, TĐTT bình quân theo ngày cao nhất ghi nhận ở nghiệm thức MĐ 1 (0,15 g/ngày) và có sự sai khác có ý nghĩa (P < 0,05) với hai nghiệm thức MĐ 2 (0,14 g/ngày) và MĐ 3 ( 0,14 g/ngày).

Kết quả phân tích thống kê về TĐTT đặc trưng của cá lóc đen qua 60 ngày nuôi cho thấy có sự khác biệt giữa các nghiệm thức MĐ 1 (2,97 %/ngày) có tốc độ tăng trưởng cao hơn nghiệm thức MĐ 2 (2,89 %/ngày) và MĐ 3 (2,86 %/ngày) (P < 0,05).

a.TĐTT bình quân ngày về khối lượng của cá lóc đen

Kết quả theo dõi TĐTT bình quân ngày của cá lóc cho thấy, TĐTT bình quân ngày về khối lượng của cá ở các mật độ khác nhau thì có sự khác nhau. Tuy nhiên, khi tiến hành phân tích ANOVA một nhân tố thì chỉ có giai đoạn 20-30 ngày ương sự sai khác mới có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), các giai đoạn còn lại sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Chỉ trừ giai đoạn 30-40 ngày ương, các giai đoạn còn lại có TĐTT bình quân ngày khá đều nhau kể cả trong cùng một mật độ cũng như giữa các mật độ với nhau và tương đối ổn định trong suốt quá trình ương, các bình quân ngày khá đều nhau kể cả trong cùng một mật độ cũng như giữa các mật độ với nhau và tương đối ổn định trong suốt quá trình ương. Kết thúc thí nghiệm, cá đạt TĐTT bình quân ngày cao nhất ở giai đoạn 30-40 ngày ương cho cả 3 mật độ, đầu tiên là MĐ 2 đạt 0,36 g/ngày, tiếp theo là MĐ 3 đạt 0,34 g/ngày, thấp nhất là MĐ 1 đạt 0,31 g/ngày.

TĐTT bình quân ngày thấp nhất của MĐ 1 là 0,10 g/con xảy ra ở giai đoạn 40-50 ngày ương, MĐ 2 là 0,06 g/con, MĐ 3 là 0,08 g/con đều ở ngày ương thứ 20-30.

b. TĐTT đặc trưng về khối lượng của cá lóc đen

TĐTT tương đối về khối lượng của các có sự sai khác giữa các mật độ thí nghiệm. Tuy nhiên, khi tiến hành phân tích ANOVA một nhân tố cho thấy, chỉ có giai đoạn 30-40 ngày ương và 50-60 ngày ương mới có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05). Nhìn chung, TĐTT đặc trưng khá cao ở giai đoạn đầu và càng về sau thì càng giảm dần, nguyên nhân chủ yếu có thể do ở giai đoạn đầu cá còn nhỏ, về sau kích thước cá tăng lên, mật độ ương cao, không gian sống bị thu hẹp nên làm cho cá kém ăn hơn.

Ở ngày ương 30-40, TĐTT tương đối của MĐ 2 đạt 5,72 %/ngày và MĐ 3 đạt 5,56 %/ngày, đạt cao nhất. MĐ 1 cao nhất đạt 5,00 %/ngày (ngày ương 0-10). Ở ngày ương 40-50, cả 3 mật độ đều có TĐTT tương đối thấp nhất, MĐ 1 là 1,08 %/ngày, MĐ 2 là 1,11 %/ngày, MĐ 3 là 1,15 %/ngày.

2.3. Tỷ lệ sống của cá lóc đen trong quá trình ương

Tỷ lệ sống là một trong những chỉ số hết sức quan trọng khi đánh giá hiệu quả của các mật độ khác nhau. Tỷ lệ sống khi thí nghiệm kết thúc giữa các mật độ ương có sự sai khác, tỷ lệ sống đạt cao nhất ở MĐ 1 (86,89%), tiếp theo là MĐ 2 ( 79,83%) và thấp nhất là MĐ 3 (79,33%). Như vậy, khi ương ở mật độ thấp thì cá có tỷ lệ sống cao hơn. Phân tích ANOVA một nhân tố, cho thấy tỷ lệ sống của cá trong các nghiệm thức ương sai khác có ý nghĩa (P < 0,05) ở từng mật độ ương. Như vậy, có thể kết luận rằng mật độ ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của cá lóc đen.

IV . Kết luận

Tăng trưởng về chiều dài và khối lượng khi ương nuôi trong bể composite ở 3 mật độ có TĐTT ngày là MĐ 1 (0,083 cm/ngày và 0,153 g/ngày), MĐ 2 (0,076 cm/ngày và 0,144 g/ngày) và MĐ 3 (0,073 cm/ngày và 0,141 g/ngày). TĐTT đặc trưng là MĐ 1 (1,009 % và 2,967%), MĐ 2 (0,934% và 2,886%) và MĐ 3 (0,905% và 2,857%). Khối lượng cá trung bình khi kết thúc thí nghiệm là MĐ 1 (11,07cm/con và 11,03g/con), MĐ 2 (10,57cm/con và 10,51g/con), MĐ 3 (10,54cm/con và 10,33g/con). Tỷ lệ sống cao nhất ở MĐ 1 (86,89%), tiếp theo là MĐ 2 (79,83%) và thấp nhất là MĐ 3 (79,33%) (P < 0,05).

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 7/2026: xem xét nhiều nội dung quan trọng
Chiều ngày 31/7/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức hội nghị thường kỳ để thảo luận và cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, phát triển đảng viên và chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụm thi đua Liên hiệp hội các tỉnh Nam Bộ sơ kết công tác thi đua 6 tháng đầu năm 2026
Chiều ngày 30/7/2026, tại tỉnh Đồng Tháp, Cụm thi đua Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh Nam Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị do TTND.TS.BS Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long, Cụm trưởng Cụm thi đua chủ trì.
Đắk Lắk tổ chức thành công Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031
Sáng 30/7, tại Khách sạn ELEPHANTS (tỉnh Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp Hội) long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031 với sự tham dự của 250 đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, các hội thành viên cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh.
Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 thành công tốt đẹp
Trong hai ngày 28-29/7, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề “Tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh vững mạnh, góp phần xây dựng tỉnh Tuyên Quang phát triển toàn diện, bền vững”.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Chuyển từ cứu trợ tình thế sang chủ động, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng
Sáng 28/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam lần thứ XII, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra với sự tham dự của 500 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 5,6 triệu cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và thanh thiếu niên Chữ thập Đỏ cả nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Đắk Lắk: Bước tiến đột phá trong điều trị vô sinh hiếm muộn
Tham gia Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk lần thứ X (2024 - 2025), ThS.BS Lê Huy Khải cùng các cộng sự tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột (IVFMD BMT) đã mang đến hai giải pháp y học xuất sắc, hiện thực hóa giấc mơ làm cha, làm mẹ của hàng ngàn cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn tại Đắk Lắk.
KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam
Ngày 25/7, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. KTS. Trần Ngọc Chính tiếp tục được bầu giữ chức Chủ tịch Hội. TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự, phát biểu và trao các phần thưởng của Liên hiệp Hội Việt Nam cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.