An Giang: ứng dụng sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp chế biến nông - thủy sản
Thực trạng và mục tiêu của sản xuất sạch hơn
An Giang là vùng đất phù sa màu mỡ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có cơ cấu cây trồng phong phú với trên 500 ngàn héc ta diện tích gieo trồng lúa, năng suất bình quân 5,4 tấn/ha, sản lượng 2,75 triệu tấn/năm. Diện tích màu, lương thực chiếm 7-8% diện tích gieo trồng hàng năm. Bên cạnh đó, là một tỉnh nằm ở đầu nguồn 2 con sông (sông Tiền và sông Hậu), An Giang còn có thế mạnh để phát triển nuôi trồng thủy sản.
Để phát huy thế mạnh của mình, ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản An Giang đã chú trọng đầu tư, đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất, chế biến để phát triển nhanh, tăng giá trị các sản phẩm chế biến từ các nguyên liệu (cá tra, ba sa, tôm càng xanh và rau quả đông lạnh…). Tuy nhiên, ở một số doanh nghiệp chế biến của tỉnh, thiết bị sản xuất, chế biến đã cũ, quy trình công nghệ chưa thật sự tối ưu… đã tác động đến việc tăng chi phí về năng lượng và nguyên liệu đầu vào, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng giá thành sản phẩm và thải ra môi trường một lượng chất thải lớn, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh. Thời gian qua, để giải quyết vấn đề trên, các nhà máy chế biến nông - thủy sản đã tiến hành đổi mới trang thiết bị, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng và hoàn thiện dây chuyền chế biến, hệ thống xử lý nước thải… nhằm đáp ứng những yêu cầu về công tác quản lý, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc đầu tư cho các công trình xử lý chất thải thường rất tốn kém và khó thực hiện. Trong khi đó, hiệu quả của việc đầu tư thông qua các giải pháp sản xuất sạch hơn sẽ góp phần quan trọng cải thiện có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường và phát huy tốt hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ thực trạng trên, Sở Khoa học và Công nghệ An Giang đã phối hợp cùng Viện Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên Tp Hồ Chí Minh và các chuyên gia của Dự án SEAQIP (Bộ Thủy sản) thực hiện thí điểm ứng dụng sản xuất sạch hơn tại 2 doanh nghiệp: Nhà máy Rau quả đông lạnh (Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp - ANTESCO) và Nhà máy Chế biến Thủy sản đông lạnh (Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm - AFIEX).
Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là nhằm thực hiện đồng bộ các giải pháp để cải tiến sản phẩm và tối ưu hóa quy trình sản xuất của nhà máy. Bên cạnh việc thực hiện nghiêm ngặt các giải pháp tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp…, sản xuất sạch hơn còn giúp cho doanh nghiệp, nhà sản xuất ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đặc biệt, việc ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn sẽ tác động trực tiếp đến việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện sức khỏe công nhân. Chính vì vậy, sản xuất sạch hơn được xem là một trong những giải pháp quan trọng của sự phát triển bền vững, ổn định của các doanh nghiệp sản xuất chế biến nông - thủy sản.
Qua thời gian triển khai thực hiện thí điểm tại 2 doanh nghiệp (Nhà máy Chế biến Thủy sản đông lạnh và Nhà máy Rau quả đông lạnh), việc ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn đã thu được kết quả rất khả quan và mở ra tiềm năng to lớn cho việc nhân rộng mô hình này.
Quy trình thực hiện và bài học kinh nghiệm cần chia sẻ
![]() |
Đây là doanh nghiệp nhà nước chuyên chế biến và kinh doanh các mặt hàng thủy sản đông lạnh như cá tra, cá ba sa, tôm... với tổng sản lượng hàng năm trên 3.000 tấn. Do máy móc cũ và hoạt động lâu năm nên mức tiêu thụ năng lượng cao. Bình quân Nhà máy sử dụng từ 350-400 m3 nước/ngày cho các công đoạn làm sạch nguồn nguyên liệu trước khi đưa vào chế biến, làm nguội một số thiết bị máy móc, vệ sinh nơi làm việc...; sử dụng khoảng 3 triệu kWh điện/năm (trong đó 85% dùng cho việc làm lạnh hệ thống chế biến). Ngoài ra, còn nhiều công đoạn sản xuất sử dụng năng lượng không hợp lý gây ra tình trạng lãng phí, tiêu hao lớn. Thông qua việc ứng dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, các chuyên gia về kiểm toán năng lượng đã tư vấn cho Nhà máy thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Tiết kiệm nước: Thường xuyên theo dõi chặt chẽ các chỉ số của đồng hồ nước, phát hiện kịp thời những biến đổi bất thường; khoán định mức nước sử dụng cho các phân xưởng; sử dụng máy phun nước áp lực để vệ sinh thay cho cách dùng vòi mềm, kiểm soát tốt các sự cố nước tràn, rò rỉ, hư van trong việc sử dụng nước; trang bị lại các dụng cụ vệ sinh cho phù hợp; thay đổi tập quán vệ sinh (thu gom chất thải rắn trước khi rửa...); tuyên truyền nhận thức nhằm nâng cao ý thức về tiết kiệm điện và giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho các bộ phận quản lý sản xuất và công nhân.
- Thu hồi chất thải rắn: Tận thu máu, mỡ, vụn cá bị rơi vãi trong khu chế biến để làm phụ phẩm…
- Tiết kiệm điện: Căn chỉnh để hạ nhiệt độ buồng băng torry, rút ngắn thời gian cấp đông; sửa lại phao khống chế mức nước của máy đá vẩy; lắp đặt thiết bị làm lạnh nước chế biến; lắp thêm giàn lạnh NH3 cho kho lạnh 250 T; làm lạnh NH3 lỏng cho thiết bị cấp đông ở các phân xưởng; biến tần cho quạt 2 giàn; ngăn gió lạnh thoát ra từ băng tái đông; ghép chung kho lạnh phân xưởng với máy đá vẩy...
Với việc thực hiện đồng bộ những giải pháp trên, Nhà máy đã tiết kiệm chi phí xử lý nước sạch và nước thải rất lớn (khoảng 142 triệu đồng/năm). Theo đó, Nhà máy chỉ đầu tư một khoản kinh phí rất ít để thiết lập hệ thống kiểm soát điện năng tiêu thụ và các giải pháp nhỏ để tiết kiệm năng lượng (khoảng hơn 330 triệu đồng/năm) là đã có thể yên tâm sản xuất, nâng cao hiệu quả công tác quản lý của doanh nghiệp, nâng cao ý thức của từng công nhân và giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách rõ rệt.
![]() |
Đây là Nhà máy chuyên sản xuất và chế biến các sản phẩm từ rau quả và trái cây đóng hộp như: Bắp non, khóm, đậu...
Trung bình mỗi ngày Nhà máy sử dụng 35 tấn nguyên liệu, 150 m3 nước, 5.000 kWh điện và 600 lít dầu FO. Chính vì vậy, trong quá trình chế biến rau quả đông lạnh, Nhà máy đã thải ra môi trường xung quanh một lượng lớn chất thải rắn (vỏ khóm, hạt các loại trái cây, rau quả…, khoảng 30 tấn chất thải rắn/ngày) và phải tiêu tốn chi phí là 20 triệu đồng/ngày để thu gom rác (lượng rác thải của Nhà máy tương đương với lượng chất thải của 4.000 hộ dân - bằng dân số trung bình một xã). Nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường, Nhà máy đã tiến hành áp dụng một số giải pháp sau:
- Tiết kiệm nước: Tương tự như các giải pháp của AFIEX.
- Thu hồi chất thải rắn: Nhà máy tiến hành thu hồi toàn bộ 30 tấn vỏ rác và tận thu 10 tấn nước trái cây ép thải ra môi trường. Đối với vỏ khóm và các chất thải từ nguyên liệu khóm sẽ xử lý bằng cách nghiền nát, sấy khô dùng làm nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc.
- Tiết kiệm dầu FO: Gắn đồng hồ theo dõi hơi, dụng cụ đo lượng dầu FO; bảo trì, tẩy cáu cặn lò hơi; gắn van điều tiết áp suất hơi; quản lý việc sử dụng hơi.
- Tiết kiệm điện: Quản lý điện năng tiêu thụ bằng cách lắp đặt các côngtơ cho các thiết bị tiêu thụ điện chính; thay các động cơ ăn dòng cao bằng động cơ ăn dòng thấp; lắp bộ trao đổi nhiệt nhằm tận dụng nhiệt thải của hệ thống lạnh để đun nước nóng; dùng máy nén NH3 hai cấp để cấp lạnh cho kho chứa; tháo bỏ các giàn lạnh NH3 và thay bằng các cụm máy lạnh R 22 độc lập, dùng máy nén NH3 hai cấp cấp lạnh cho kho tiền đông…
Với những giải pháp tiết kiệm nêu trên, Nhà máy đã thu hồi được toàn bộ chất thải rắn (20-30 tấn/ngày), giảm nước thải sản xuất khoảng 35 m3/ngày, tiêu thụ điện giảm 10%... Ngoài ra, Nhà máy còn trang bị thiết bị sấy tiên tiến, lắp đặt máy nghiền vỏ khóm (gần 200 triệu đồng)… qua đó giúp cho Nhà máy tiết kiệm chi phí vận chuyển rác gần 1 triệu đồng/ngày, đồng thời tăng nguồn thu từ việc sản xuất nguyên liệu làm thức ăn cho gia súc. Trước đây, nước khóm ép được thải ra đường ống gây ô nhiễm môi trường thì nay đã được ứng dụng công nghệ tiên tiến (tinh lọc, khử trùng… tạo ga) làm thành nước khóm có ga đạt yêu cầu về chất lượng để cung cấp rộng rãi ra thị trường.
Từ việc thực hiện thí điểm thành công mô hình sản xuất sạch hơn tại 2 doanh nghiệp nêu trên, có thể thấy rằng, việc thực hiện sản xuất sạch hơn thông qua các giải pháp sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu và năng lượng đã mang lại hiệu quả rất thiết thực và phù hợp với xu thế phát triển chung của lĩnh vực chế biến các mặt hàng nông - thuỷ sản. Hiện nay, tỉnh An Giang đang tiến hành nhân rộng mô hình trên cho các doanh nghiệp trên địa bàn bằng chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp 30% vốn trong tổng vốn đầu tư để áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn của doanh nghiệp. Đây là mô hình mang lại hiệu quả cao, tạo điều kiện tăng hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng được xu thế hội nhập và góp phần tích cực vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, 09/2006










